Dinh dưỡng cho người mắc bệnh viêm gan

Gan là một cơ quan quan trọng của cơ thể, thực hiện rất nhiều chức năng khác nhau. Theo một số tài liệu, gan đảm nhiệm tới trên 500 chức năng khác nhau trong cơ thể. Nhiều người ví gan như một nhà máy sinh hóa khổng lồ. Gan giúp giải độc cho cơ thể, tham gia vào các quá trình chuyển hóa, điều hòa hệ tiêu hóa và việc cung cấp năng lượng cho cơ thể. Gan cũng giúp cho việc cân bằng giữa các chất đường, đạm, mỡ, giữ cho cơ thể có được điều kiện sức khoẻ tốt nhất.

Do vai trò quan trọng của gan nên khi gan bị viêm hay tổn thương không hồi phục thì sức khỏe của người bệnh bị đe dọa nghiệm trọng. Bên cạnh việc điều trị viêm gan thì chế độ ăn uống, dinh dưỡng và tập luyện cũng có vai trò vô cùng quan trọng góp phần không nhỏ trong quá trình trị liệu bệnh gan.

Chế độ dinh dưỡng bao gồm cả 2 yếu tố chất và lượng đảm bảo đủ những chất cần thiết để tồn tại và phát triển, bao gồm những chất cơ bản như đạm, bột, đường, sinh tố và các yếu tố vi lượng, chất xơ tùy theo thể trạng và tính chất bệnh lý của gan. Nhìn chung, ở cơ thể trưởng thành trung bình chúng ta cần từ 1.800 - 2.500 kcal, trong đó đạm là 1-1,5 gr/kg thể trọng; ngoài ra cơ thể chúng ta cũng cần khoảng từ 20-30 gr chất xơ. Chất xơ này có nhiều trong trái cây và rau như cam, chuối, cà rốt, đậu đỏ, đậu đen, gạo lức...; các loại rau muống, rau dền, cải cúc, rau ngót.

Cụ thể chế độ dinh dưỡng cho người bệnh viêm gan:

1. Với người bị viêm gan B cấp tính: cần ăn thành nhiều bữa, tránh ăn quá no một lúc, không nên ăn những thức ăn khó tiêu có nhiều gia vị, dầu mỡ như tiêu, ớt, đồ ăn chiên rán; nên uống nhiều nước nhưng không uống nước đá, đặc biệt không uống bia rượu, cà phê, thuốc lá. Bên cạnh đó trong giai đoạn viêm cấp cần có chế độ nghỉ ngơi thường xuyên, không làm việc quá sức, tránh các căng thẳng tâm lý; hạn chế dùng thuốc một cách tối đa, nếu buộc phải dùng thuốc nên tuân thủ theo chỉ định của bác sĩ, không tự ý dùng thuốc bừa bãi. Khi tình trạng nhiễm độc gan trầm trọng cần được theo dõi chăm sóc trong bệnh viện, còn nếu mức độ nhẹ có thể nghỉ ngơi điều trị tại nhà. Trong trường hợp này nên ăn nhẹ và nhiều hơn về buổi sáng vì một số nghiên cứu cho thấy buổi sáng cơ thể và khả năng hấp thu của gan tốt hơn so với chiều, do tình trạng nhiễm độc vì vậy buổi chiều nên ăn ít hơn để tránh bị đầy bụng và nên ăn thành nhiều bữa. Về cơ bản vẫn phải ăn đủ chất dinh dưỡng, đủ năng lượng. Sau khi gan bình phục có thể ăn uống trở lại bình thường, chỉ cần giảm mỡ và các đồ uống có hại cho gan.

2. Với người bị viêm gan mạn tính: Một số tác giả cho rằng nguy cơ đầu tiên lại chính là sự thiếu dinh dưỡng, chính vì vậy những người bị viêm gan mạn tính được khuyên nên tiếp tục ăn uống một cách bình thường, tránh ăn kiêng quá mức cần thiết. Đồng thời để tạo ra sự ngon miệng nên thay đổi nhiều loại thức ăn khác nhau, nên ăn nhiều rau quả và trái cây để có đủ chất xơ cũng như nên ăn nhiều đạm nhất là đạm thực vật, uống thêm một số thuốc bổ bổ sung vitamin và khoáng chất nhưng không nên uống hay ăn những thực phẩm chứa nhiều chất sắt vì gan là cơ quan có chứa rất nhiều chất sắt. Gan của người nhiễm siêu vi C có khuynh hướng giữ chất sắt nhiều hơn mức bình thường vì vậy đưa vào cơ thể thêm nhiều chất sắt dễ làm tăng nguy cơ tổn thương các cơ quan khác như tim, tụy. Các tác giả khuyên rằng nên tránh nấu ăn bằng nồi sắt vì một số phân tử sắt có thể hòa tan vào thức ăn.

Ở những bệnh nhân viêm gan mạn tính, giai đoạn đầu có thể sự tiêu hoá chưa gặp trở ngại nào nhưng về lâu dài hệ thống tiêu hóa sẽ yếu dần vì vậy dễ dẫn đến thiếu dinh dưỡng. Các chất đa sinh tố, axit folic cũng được khuyến khích sử dụng nhất là trong những trường hợp viêm xơ gan do rượu.

Khi viêm gan mạn tính có vàng da, khả năng bài tiết mật có thể giảm vì thế sự hấp thu các chất béo trở nên khó khăn hơn, các loại sinh tố hòa tan trong mỡ như Vitamin A, D, E sẽ không hấp thụ đủ vì vậy nên bổ sung thêm các loại sinh tố trên mỗi ngày.

Việc bổ sung chất đạm trong viêm gan là cần thiết, vì chất đạm giúp cơ thể nhanh phục hồi và có tác dụng chống đỡ lại bệnh tật, làm cho tế bào gan tăng trưởng và phục hồi. Nên ăn các chất đạm có nguồn gốc từ thực vật như đậu xanh, đậu nành và từ tôm cá… Cần tránh tuyệt đối bia rượu, đây là kẻ thù rất nguy hiểm với gan. Nhiều nghiên cứu cho thấy ở những người nghiện rượu bia lâu ngày dễ dẫn tới viêm gan, xơ gan, đặc biệt dễ nhiễm siêu vi C và làm các bệnh gan trở nên trầm trọng hơn, do vậy tuổi thọ sẽ giảm so với những người bị viêm gan mà không uống rượu.

Ngoài ra cũng nên tránh béo phì vì bệnh béo phì dễ dẫn đến các bệnh tim, mạch, huyết áp, tiểu đường, nhiễm mỡ gan làm cho gan đã bị viêm có nguy cơ trở thành xơ gan, vì vậy những người viêm gan mạn tính cũng nên có chế độ tập thể dục một cách phù hợp và giảm bớt các thức ăn có chất béo, cholesterol và đường; nên có chế độ ăn uống ít calo hơn ở những người bị viêm gan mạn mà không mắc bệnh béo phì. Nhưng cũng cần lưu ý ở những người béo phì bị viêm gan mạn vẫn có thể bị thiếu dinh dưỡng trầm trọng mặc dù bên ngoài có vẻ như rất mập mạp...

Về thuốc, rất nhiều loại thuốc điều trị bệnh có thể gây tổn thương các tế bào gan, nên người bị viêm gan cần tham khảo ý kiến của bác sĩ trước khi dùng bất cứ một loại thuốc nào.

Tóm lại người bị viêm gan, đối với từng giai đoạn, việc lựa chọn chế độ dinh dưỡng hợp lý để cung cấp đủ năng lượng cho cơ thể và tránh xa các chất độc hại là rất cần thiết để góp phần tạo nên chất lượng sống tốt hơn cũng như kéo dài tuổi thọ cho người bệnh.

CHẨN ĐOÁN LÁCH TO

http://phuongthaoherbal.com/vn/userfiles/image/H%C3%ACnh%20gi%E1%BA%A3i%20ph%E1%BA%ABu/100_%20V%E1%BB%8B%20tr%C3%AD%20c%E1%BB%A7a%20l%C3%A1ch.jpg

CHẨN ĐOÁN LÁCH TO

Lách to là một triệu chứng gặp trong nhiều bệnh, nhưng thường nhất là các bệnh về máu và những bệnh của hệ thống tĩnh mạch cửa, các bệnh của gan. Vì là một dấu hiệu thực thể rất có giá trị trong các loại bệnh kể trên, nên khi thăm khám lâm sàng cần hết sức chú ý phát hiện lách to.

I. CHẨN ĐOÁN

1. Chẩn đoán xác định.

1.1. Bình thường:

Lách nằm lẩn trong lồng ngực, không sờ thấy đuợc, trừ các trẻ nhỏ, thành bụng nhẽo. Chỉ gõ được vùng đục của lách ở đường nách sau, cao độ 2-3cm trong khoảng từ D9 – D10 và D11.

1.2. Kỹ thuật khám lách.

- Nhìn: khi lách to nhiều có thể thấy một vòm nổi lên dưới bờ sườn trái. Trường hợp này ít thấy và không được chính xác.

- Sờ nắn: để xác định của lách ở phía dưới bờ sườn. Người bệnh nằm ngửa hoặc hơi nghiêng về bên phải, tay trái giơ cao lên đầu. Thầy thuốc ngồi bên phải người bệnh. Dùng tay phải đặt nằm lên hạ sườn trái người bệnh ở giữa đường nách trước và đường thẳng dọc kẻ qua giữa xương đòn, vì lách di động theo nhịp thở, nên người bệnh hít vào thật sâu, lách sẽ đụng vào các ngón tay ta.

Cũng có thể ngồi bên trái người bệnh. Khi đó người bệnh nằm nghiêng hẳn về bên phải. Dùng các đầu ngón tay làm móc móc nhẹ về bờ dưới xương sườn vùng lách. Người bệnh hít vào thật sâu, có thể thấy được cực dưới của lách.

Trường hợp lách to nhiều xuống phía dưới thì dung hai bàn tay: một phía trện bụng,một phía dưới lưng để giới hạn vị trí của lách và nhận thấy rõ chỗ eo vào của lách. Đồng thời với cách khám này ta sẽ không thấy dấu hiệu bập bềnh thận hoặc dấu hiệu chạm thắt lưng.

- Gõ: để biết vùng đục của lách ở phía trong lồng ngực, cần gõ mạnh từ trên xuống dưới theo đường nách. Ranh giới giữa vùng trong của phổi với vùng đục của lách cho biết cực trên của lách. Trường hợp lách to có thể chấn đoán một phần vùng Traube của dạ dày, lúc đó gõ vùng này cũng thấy đục.

Lách to thường theo hai chiều: chiều thẳng đứng đi xuống hố chậu và đường nằm ngang đi ra giữa bụng. Tuy nhiên có thể chỉ to theo đường thẳng đứng (lách đứng) hoặc chĩ to theo đừong nằm ngang (lách nằm) không có giá trị về phương diện chẩn đoán xác định lách to cũng như chẩn đoán nguyên nhân bệnh. Có khi người ta chia lách to theo số:

Lách số 1: quá bờ sườn 2cm.

Lách số 2: quá bờ sườn 4cm.

Lách số 3: đến rốn.

Lách số 4: quá rốn.

1.3. Nghiệm pháp có lách.

Lách có thể thay đổi thể tích do co lại vì nhiều nguyên nhân khác nhau như khi gắng sức, cảm động, ngạt thở, chảy máu nhiều… ta có thể xác định mức độ co lại của lách bằng cách tiêm phòng 1mg adrenalin vào dưới da, sau đó theo dõi:

- 15 phút sau khi tiêm, thể tích lách co lại.

- Số lượng hồng cầu máu ngoại biên từng 5 phút một. Thường số lượng hồng cầu tăng nhiều nhất sau 10 phút, số lượng tiểu cầu tăng cũng nhanh. Số lượng bạch cầu tăng chậm hơn.

- Nghiệm pháp co lách, ngoài tác dụng chẩn đoán xác định còn giúp cho biết tình trạng xơ hoá của lách.

1.4. Chọc dò lách:

Rất ít khi áp dụng vì tai biến chảy máu. Có thể hạn chế được một phần tai biến, nếu người bệnh nằm bất động tuyệt đối trên giường 24 giờ sau khi tiến hành phẫu thuật. Phương pháp này có chỉ định khi bằng các phương tiện khác mà chưa tìm được nguyên nhân lách to.

chống chỉ định tuyệt đối chọc lách khi thể trạng dễ chảy máu, nhiễm khuẩn, lách to đau, người bệnh dễ xúc động.

Cuối cùng sau khi đã xác định được lách to, cần theo dõi tiến trểin hằng ngày thể tích của nó bằng vẽ trên da bụng hoặc vẽ trên giấy.

Xquang ít giúp cho chẩn đoán xác định lách to. Thường chỉ dùng để chẩn đoán phân biệt với các khối u khác ở hạ sườn trái.

2. Chẩn đoán phân biệt.

Trường hợp lách to trung bình, thường dễ chẩn đoán bằng phương pháp kể trên.

Khi lách to ít, hoặc ngược lại lách quá to, choán hết hố chậu trái, có khi cả hố chậu phải. Lúc đó cần chẩn đoán phân biệt với:

2.1. Thận trái to:

- Khối u của thận tròn hơn, ở sâu hơn, bờ trong của thận không có chỗ lõm vào.

- Có thể thấy dấu hiệu bập bềnh thận hoặc chạm thắt lưng.

- Gõ phía trước thường trong vì có đại tràng đi ngang qua, khác với lách to, nằm phía trong đại tràng ngang.

Trường hợp khó phân biệt, cần chụp thận với thuốc cản quang để biết rõ hình dáng, kích thước thận và bể thận. Dù sao nhiều trường hợp vẫn có thể nhầm.

2.2. Khối u đại tràng ngang góc lách.

- Khối u tròn, nắn thấy giới hạn, di động dễ hơn.

- Có những rối loạn tiêu hoá, đặc biệt là hội chứng Koenig.

Muốn phân biệt chắc chắn thì dùng Xquang: bơm thuốc cản quang vào đường hậu môn (lavemantharyté), nếu khối u của đại tràng thấy rõ hình khuýêt.

2.3. Khối u dạ dày.

- Ở sâu.

- Có rối loạn về tiêu hoá.

Dùng xquang phân định: chụp dạ dày có thuốc cản quang thấy hình khuyết của dạ dày hoặc chụp dạ dày sau khi uống nước sinh hơi, bờ cong lớn của dạ dày bị đẩy vào trong bởi bờ rang cưa của lách. Phương pháp sau này rất có giá trị nếu khi lách to phát triển dưới cơ hoành rất khó sờ nắn.

2.4. Thùy trái gan to:

Trong một số trường hợp, thuỳ trái của gan lấn hẳn sang bờ sườn trái, khó hơn nữa là vưa gan to vừa lách to. Lúc đó gõ ta sẽ thây một đường phân biệt giữa vùng đục của gan với vùng đục của lách khác với vùng đục liên tục trong thuỳ trái gan to.

2.5. Khối u thượng thận:

Thường có kèm theo các rối loạn nội tiết. Cụ thể phân định bằng chụp bụng sau khi bơm hơi màng bụng.

Ngoài ra có thể nhầm lách to với khối u mạc treo, khối u tuỵ tạng, viêm cơ hạ sườn trái, lao hạch màng bụng.

Dù sao, trong tất cả các trường hợp trên, nếu khám xét kỹ, đúng kỹ thuật, hỏi tiền sử bệnh tỷ mỷ,ta cũng có thể phát hiện được bằng lâm sàng hoặc bằng các phưong pháp cận lâm sàng kể trên.

II. CHẨN ĐOÁN NGUYÊN NHÂN LÁCH TO.

Lách có hai nhiệm vụ chính:

- Là một cô quan tạo máu tan máu và điều chỉnh các chức phận tạo máu.

- Giữ một vai trò tuần hoà: đặc biệt trong hệ thống tĩnh mạch cửa, do đó có liên quan mật thiết đến bệnh ly gan.

Như vậy, đứng trước một ngườibệnh có lách to, cần phải hỏi kỹ, thăm khám lâm sàng tỷ mỷ và tiến hành một số xét nghiệm hướng về bệnh lý của máu và các cơ quan tạo máu khác, các bệnh lý về gan và tuần hoàn tĩnh mạch cửa vì tuy nguyên nhân lách to có rất nhiều nhưng quan trọng nhất vẫn là hai nguyên nhân: các bệnh máu và các bệnh gan, hệ tĩnh mạch cửa.

Thường người ta chia làm hai loại lách to: lách to mạn tính và lách to cấp tính do nhiễm khuẩn.

1. Lách to mạn tính.

Loại này thường gặp nhất và chẩn đoán nguyên nhân cũng khó hơn:

1.1. Lách to trong các bệnh máu.

1.1.1. Bệnh bạch cầu kinh thể tân:

- Thường là người có tuổi.

- Hạch to đều thành chuỗi hai bên.

- Trong một thời gian dài, thể trạng tương đối khá.

- Lách to ít, xét nghiệm huyết đồ thấy tăng bạch cầu, đặc biệt loại tân cầu, màu sắc tiêu bản đồng đều, không có khoảng trống tế bào.

- Tuỷ đồ: tăng bạch cầu thể tân cả loại non lẫn loại già.

- Người bệnh tử vong sau 5 đến 10 năm.

1.1.2. Bệnh Hodgkin:

- Gặp ở người trẻ hơn.

- Hạch thường ở cổ, ở nách, không đối xứng.

- Có khi kh trú trung thất.

- Người bệnh sốt lên xuống dao động.

- Bị ngứa nhiều.

- Huyết đồ: tăng nhẹ bạch cầu đa nhân, tân cầu giảm, đa nhân ưa axit tăng nhiều.

- Chọc dò hoặc sinh thiết hạch thấy có cấu trúc hạch bị đảo lộn, có tế bào Sternberg và những u tế bào ưa axit (granulome éosinophilique). Tử vong sau 2-3 năm tiến triển.

Ngoài ra lách và hạch đều to trong các bệnh:

- Besnier – Baeck Schaumannn.

- Bệnh Sacom lan rộng.

1.2. Lách to kèm theo tăng hồng cầu.

1.2.1. Bệnh Vaquez:

Da, niêm mạc tím sẫm, gan hơi to. Số lượng hồng cầu trong máu tăng rất cao.

1.2.2. Lao lách:

Có thể tăng hồng cầu.

1.3. Lách to kèm theo tăng tuỷ bào:

Bạch cầu tinh thể tuỷ. Lách to nhiều có khi xuống tới hố chậu. Huyết đồ thấy bạch cầu tăng rất cao, 200.000 đến 300.000/mm3, đặc biệt đa số là loại tuỷ bào, tăng từ non đến già không có khoảng trống bạch cầu. Cần chú ý phát hiện những biểu hiện khác của bệnh ở gan, tĩnh mạch, võng mạc, màng phổi.

Tiến triển đến tử vong vài năm, thường là tiến triển sang bệnh bạch cầu cấp.

1.4. Lách to kèm theo hội chứng thiếu máu do tan máu:

Hội chứng thiếu máu do tan máu gồm có:

- Thiếu máu, vàng da nhẹ.

- Bilirubin máu tăng, đặc biệt loại gián tiếp. Stecobilin trong phân tăng.

- Số lượng hồng cầu lưới trong máu tăng cao (trung bình là 1-2%), có khi tới 60- 70%.

- Tuỷ đồ: tuỷ rất giảu hồng cầu, đặc biệt là hồng cầu non.

Có thể là:

1.4.1. Thiếu máu do tan máu tiên thiên (bệnh Minkowski, chauffard):

Em bé xanh xao vàng da nhẹ, lách to vừa. Huyết đồ thấy hồng cầu nhỏ hình bí. Sức bền hồng cầu giảm.

1.4.2. Thiếu máu do tan máu do các bệnh máu của huyết cầu tố:

Bệnh có tính cách di truyền. Trong hồng cầu có những huyết cầu tố bất thường có thể phát hiện được bằng phưong pháp điện di đặc biệt. Trong nhóm này có hai bệnh: bệnh thiếu máu do tan máu với hồng cầu hình bia bắn (cible) thiếu máu vùng biển và thiếu máu do tan máu hồng cầu hình liềm (drépanocytose).

1.4.3. Bệnh thiếu máu do tan máu mắc phải:

Nguyên do nhiểm độc, nhiễm khuẩn, ký sinh vật, các bệnh ác tính.. trong máu thấy có những kháng thể kháng hồng cầu (phản ứng comb trực tiếp và gián tiếp dương tính).

1.5. Lách to kèm theo làm giảm các tế bào máu:

Đó là hội chứng thiếu toàn bộ tế bào máu tiên phát hoặc thứ phát.

III. LÁCH TO TRONG CÁC BỆNH GAN TĨNH MẠCH CỬA

Thường là lách to xơ hoá và xung huyết nhiều, làm cho người bệnh rất dẽ có nguy cơ bị chảy máu đường tiêu hoá do vỡ phồng tĩnh mạch thực quản. Đa số là lách to xơ hoá hậu phát sinh sau khi ứ trệ tuần hoàn tĩnh mạch cửa có tăng áp lực,rất ít khi lách to trước khi tăng áp lực tĩnh mạch cửa. Sau khi chảy máu lách thường bé lại.

Trong những trường hợp này thường tiến hành làm thêm các xét nghiệm:

- Chụp thực quản với barit để tìm chỗ phồng tĩnh mạch thực quản.

- Làm huyết đồ, tuỷ đồ.

- Thăm dò chức năng gan.

- Chụp hệ thống tỉnh mạch lách – cửa, đồng thời do áp lực tỉnh mạch lách (trung bình 10 cm – 15 cm nước).

IV. LÁCH TO TRONG CÁC NGUYÊN NHÂN KHÁC.

Thường là chẩn đoán khó.

- Nhiễm lý sinh vật:

+ Sốt rét kinh diễn: cần chú ý tìm nguyên do này trong hoàn cảnh hiện tại của nước ta. Da thường xanh xạm. Cần tìm ký sinh vật sốt rét bằng giọt đặc hoặc có thể sau khi làm nghiệm pháp co lách.

+ Ngoài ra một số ký sinh vật có thể gây lách to đơn độc ít gặp ở Takala Azar. Bệnh sán máng (bilharziose…).

- Có thể là một bệnh của máu (bệnh bạch cầu thể ẩn),

- Bệnh banti giai đoạn đầu.

- Bệnh nhiễm khuẩn kinh diễn như lao, lách.

- U nang nước lách (kyste hydatique), các u ác hoặc lành.

- Rối loạn mỡ (dyslipoidose) gây ứ trệ ở lách.

Lách to cấp tính.

Trong những trường hợp này, lách to chỉ là một dấu hiệu tức thời hoặc rất phụ, nằm trong một bệnh cảnh có nhiều đặc điểm.

Thường gặp lách to trong:

- Nhiễm khuẩn máu do các loại vi khuẩn mủ thường.

- Thương hàn hoặc phó thương hàn.

- Viêm màng trong tim cấp hoặc bán cấp, lao kê, xoắn khuẩn Rickettsi…

Cần nhớ có ba bệnh cấp tính, trong đó lách to là một dấu hiệu quan trọng.

- Bệnh bạch cầu cấp: Trẻ tuổi, sốt cao, chảy máu dưới da,hạch to có viêm họng.huyết đồ thấy bạch cầu tăng cao, đa số là non. Có khoảng trống tế bào.

- Bệnh viêm màng trong tim Osler: người bệnh thường có bệnh tim cũ, sốt dai dẳng, cấy máu có thể (+).

- Bệnh tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm khuẩn: người bệnh sốt, viêm họng, nổi hạch ở cổ. Huyết đồ thấy tăng monoxit nhiều trong máu. Làm phản ứng Paul Burne thấy (+).

V. KẾT LUẬN

Lách to là một dấu hiệu thường gặp trên lâm sàng, chẩn đoán xác định thường là dễ, nhưng chẩn đoán nguyên nhân thường nhiều khi rất khó khăn.

Trừ nguyên nhân sốt rét kinh diễn gây lách to là một bệnh còn nhiều ở xứ ta, đứng trước một người có lách to, ta cần nghĩ đến các bệnh về máu và về gan, đặc biệt là bệnh xơ gan có gặp nhiều trong nhân dân do đời sống khổ cực trước đây.

bệnh sốt rét có phải là nguyên nhân gây lách to?

Tại sao sốt rét gây lách to?

Xin quý báo cho biết, bệnh sốt rét có phải là nguyên nhân gây lách to? Khi bị lách to do bệnh này thì phải điều trị như thế nào?

Trần Mạnh Thắng(Lâm Đồng)

Lách to có thể do nhiều nguyên nhân, trong đó có bệnh sốt rét. Lách phản ánh mức độ sốt rét lưu hành ở một địa phương và mức độ miễn dịch trong nhân dân. Với những trường hợp mới đến vùng sốt rét, tỷ lệ ký sinh trùng có thể cao hơn tỷ lệ lách to. Với dân sống trong vùng sốt rét lưu hành, tỷ lệ lách to có thể cao hơn tỷ lệ ký sinh trùng. Lách ở những người bệnh mắc sốt rét thường sưng to, nặng khoảng 500-1.000g hoặc hơn tùy theo thời gian bị sốt rét. Ở thời kỳ sơ nhiễm, người bệnh thấy hơi đau dưới bờ sườn, khám thấy lách sưng, chưa rắn chắc và có thể trở về bình thường nếu được điều trị tốt. Ngược lại, nếu người bệnh sốt rét tái diễn nhiều năm, không điều trị tốt, đặc biệt những người sống trong vùng sốt rét lưu hành nặng, lách sẽ bị xơ hóa, rắn chắc, không co lại được. Ngoài ra, bệnh sốt rét cũng có thể làm rối loạn chức năng của các bộ phận khác trong cơ thể như gây thiếu máu, gan to, suy thận... Do vậy, khi bị sốt rét, người bệnh cần được thăm khám tỉ mỉ và được điều trị tiệt căn tại các cơ sở y tế. Tuy nhiên, những bệnh nhân sốt rét cần tuân thủ nghiêm ngặt phác đồ điều trị của bác sĩ, tránh hiện tượng kháng thuốc của ký sinh trùng khiến bệnh ngày càng nặng và khó chữa.

Không phải cứ loãng xương là uống canxi




Có những bệnh nhân bị loãng xương nặng nhưng không do thiếu canxi, thậm chí lượng canxi trong máu còn cao hơn bình thường. Chính vì vậy không phải cứ bị loãng xương là uống canxi.

Bác sĩ Lê Anh Thư (Bệnh viện Y dược TP HCM) cho biết, do sợ bị loãng xương nên rất nhiều người đã tự ý dùng các thực phẩm có hàm lượng canxi cao mà không biết rằng điều này rất nguy hiểm. Bởi loãng xương không chỉ đơn thuần do thiếu canxi, mà còn hàng loạt các nguyên nhân khác.

Chẳng hạn: thiếu vitamin D, thiếu protit, tăng hoạt động các tế bào hủy xương, hạn chế hấp thụ canxi ở ruột, bị các bệnh nội tiết, suy giảm hoóc môn sinh dục, giảm hoạt động của các tế bào sinh xương, lạm dụng các thuốc kháng viêm nhóm corticoide. Vì thế nếu cơ thể thiếu vitamin D gây kém hấp thụ canxi thì việc cung cấp thêm canxi là vô nghĩa.

Bác sĩ Thư cũng khuyến cáo, việc dùng bừa bãi các chế phẩm giàu canxi rất nguy hiểm. Khi cơ thể thừa canxi, tùy mức độ có thể xuất hiện các biến chứng từ nhẹ đến nặng như ăn không ngon miệng, táo bón, buồn nôn, mệt mỏi, đau cơ, đau xương, mất nước (do tiểu nhiều). Lượng canxi thải qua đường tiểu nếu tăng lên, nó sẽ kết hợp với phốt phát hoặc oxalat tạo thành sỏi thận.

Với các loại sữa bột được quảng cáo giúp phòng chống loãng xương đang bán trên thị trường hiện nay, thực ra chỉ có tác dụng cung cấp nhiều dinh dưỡng (trong đó có canxi) cho cơ thể. Tuy nhiên, ngay cả sữa đặc bình thường cũng đã cung cấp đủ lượng canxi và dinh dưỡng cần thiết. Với hàm lượng canxi cao, sữa chỉ cung cấp canxi chứ không phòng chống loãng xương.

Theo bác sĩ Thư, để phòng bệnh này, cách tốt nhất không phải là uống nhiều sữa giàu canxi mà hạn chế uống cà phê, rượu, trà, có chế độ dinh dưỡng cân đối, ăn uống điều độ và vận động nhẹ hằng ngày.

Nhu cầu canxi hằng ngày của một người trung bình là 400-500 mg, còn ở phụ nữ mang thai thời kỳ cuối và phụ nữ cho con bú sáu tháng đầu là 1.000-1.200 mg. Bữa ăn hằng ngày của Việt Nam chủ yếu là các thực phẩm giàu canxi như tôm, tép, ốc, cua, trứng, và các loại rau, đậu... Vì vậy những người ăn uống bình thường và cơ thể không mắc các bệnh gây giảm hay kém hấp thụ canxi, không nên sợ thiếu chất này.

Khi bị loãng xương, người bệnh cần được bác sĩ xác định chính xác những yếu tố gây chứng loãng xương của mình để có hướng điều trị thích hợp.

Creatinine là gì

· Creatinine là gì?

· Tại sao đo creatinine trong máu lại quan trọng.?

· Mức bình thường creatinine trong máu là bao nhiêu?

Creatinine là một chất hoá học được thoái hoá từ chuyển hoá của cơ. Creatinine được sản xuất từ creatine, một phân tử rất quan trọng trong việc tạo năng lượng của cơ. Gần 2% creatine trong cơ thể được biến đổi thành creatinine mỗi ngày. Creatinine được vận chuyển trong máu đến thận. Thận sẽ lọc creatinine và thải nó ra ngoài theo nước tiểu.

Tại sao đo creatinine máu lại quan trọng?

Thận duy trì nồng độ creatinine trong máu ở mức bình thường. Creatinine là một chất đáng tin câỵ trong việc đánh giá chức năng thận. Vì vậy khi thận bị suy sẽ làm tăng nồng độ creatinine trong máu. Khi nồng độ creatinine tăng cao một cách bất thường báo hiệu rối loạn chức năng thận hay thận bị suy, ngy cả trước khi người bệnh có triệu chứng suy thận. Vì vậy mà xét nghiệm créatinine trong máu và nước tiểu là xét nghiệm thường qui rất quan trọng để đánh giá chức năng thận

Mức creatinine bình thường trong máu là bao nhiêu?

Bình thường mức creatinine trong máu khoảng 0.6 đến 1.2 milligrams (mg)/ deciliter (dl) ở nam và 0.5 đến 1.1 milligrams /deciliter ở nữ. (theo hệ thống đơn vị 1 mg= 1/1000gam, và 1ml = 1/1000 lít.)

Ở những người trẻ lực lưỡng hay tuổi trung niên, có thể có mức creatinine cao hơn mức bình thường chung của dân số. Mặt khác, ở những người lớn tuổi, mức creatinine có thể thấp hơn mức bình thường. Ở trẻ em, mức creatinine bình thường vào khoảng 0,2mg/dl hay hơn, tuỳ thuộc vào sự phát triển của khối cơ ở trẻ. Ở người chỉ có một thận thì mức creatinine bình thường vào khoảng 1,8-1,9 mg/dl. Khi mức creatinine ở em bé trên 2.0 mg/dl và trên 10 mg /dl ở người lớn thì cần phải chạy thận nhân tạo để lấy những chất có hại ra khỏi cơ thể ( vì lúc này thận không còn lọc được tốt nữa).
Đôi lúc, có một số thuốc có thể là nguyên nhân làm tăng mức creatinine lên cao một cách bất thường

Hỏi đáp về kết quả xét nghiệm

Đánh giá xơ gan

Vao nam 1997, toi di xet nghiem sieu vi B, ket qua duong tinh. Toi khong dieu tri thuoc gi cho den nam 2006 di xet nghiem lai va ket qua la: HBS AB: Pos S/co: 4446, den nam 2007: HBSAG: Pos index => 1000.0; SGOT. (AST): 22 ; SGPT (ALT): 34; HBeAg: Pos S/co = 18.182.

Sau do toi bat dau dieu tri bang cac loai thuoc: Victron 100mg, Ozinaolin 80mg, philoRPA-S, Silitrol 100, Thymolan, Lavimodine. Hien toi dang dieu tri thuoc Baraclude ngay 2 vien. Khi xet nghiem dinh luong HBV-DNA co ket qua nhu sau 521x10^0 copies/mL huyet tuong; HBeAg: Pos S/co: 15.315; SGOT (AST): 19.5;SGPT (ALT): 26.4; A.F.P: 3.04; fibroscan: 7.2 KPa.

Xin hoi nhu vay tinh hinh cua toi nang hay nhe? Co the chua cach khac khong?

(Ngo Van Sinh)

- Tra loi cua phong mach online:

O cac nam 2006 va 2007 xet nghiem mau cua ban cho ket qua HBsAg (chu khong phai HBsAB nhu ban ghi o ket qua nam 2006) duong tinh, cho thay ban da nhiem virus viem gan B (HBV) man tinh. Ban con co HBeAg duong tinh chung to virus nay trong co the ban co muc do sinh san cao ca vao nam 2007 cho den ket qua gan day, mac du xet nghiem dinh luong DNA cua HBV cho thay ket qua khong cao.

Cac men gan (ALT, AST) la chi so danh gia tinh trang viem xay ra tai gan; trong truong hop cua ban cac lan do men gan deu ra ket qua trong gioi han binh thuong cho thay hien tai cac te bao gan khong bi huy hoai. Tuy nhien, co le vi ban co HBeAg duong tinh nen ban duoc chi dinh cac thuoc ben tren, trong do co mot so thuoc diet virus (Victron, Lamivudine, Baraclude).

Ket qua do do dan hoi cua gan Fibroscan nham danh gia tinh trang xo hoa gan cho thay gan ban bi xo hoa muc do trung binh. Do co the la hau qua cua viem gan man dien ra trong hon 10 nam nay. Ket qua cua men gan va Fibroscan cho thay gan ban co le van con kha nang lam viec bu tru tot.

Tom lai, tinh trang cua ban hien nay la HBeAg duong tinh, luong DNA cua HBV o muc thap, men gan nam trong gioi han binh thuong, gan con kha nang bu tru nen chi can theo doi tai kham moi 3 - 6 thang, lam cac xet nghiem lai de danh gia dien tien benh. Thuoc chong virus thuong duoc chi dinh khi luong DNA cua virus tren 105 copies/mL, men gan tang, gan mat kha nang bu tru.

Nhieu thuoc chua cac benh khac co tac dung tren gan nen khi su dung ban nen luu y den cac tac dung nay. Ngung bia ruou cung lam cham dien tien xo gan. Giu ve sinh an uong de phong tranh nhiem virus viem gan A vi neu bi viem gan A kem se lam tang ap luc len gan da bi ton thuong san.

Vi ban co HBeAg duong tinh nen chu y phong tranh lay benh cho nguoi khac: di kham benh va chich ngua viem gan B cho nhung thanh vien chua mac trong gia dinh, dung rieng do ca nhan nhu ban chai rang, dao cao rau, do cat mong tay... ap dung bien phap an toan tinh duc. Ban cung nen xet nghiem kiem tra tinh trang nhiem virus viem gan C cua minh.

* Toi da xet nghiem viem gan sieu vi B: PCR dinh luong Hepetitis B virus DNA, co ket luan: 512 x 100 copies/mL huyet tuong (nguong phat hien >= 250 copies/ mL huyet tuong). Toi muon hoi ket qua nhu vay la cao hay thap

(Mercury Stellar)

Luong DNA cua virus viem gan B (HBV) trong mau cua ban nhu vay la thap. Tuy nhien ban van nen thuc hien cac xet nghiem theo doi tinh trang nhiem virus viem gan B moi 6 - 12 thang.

Rieng ve theo doi DNA cua virus viem gan B trong huyet thanh, day la cong cu quan trong xac dinh tinh trang sao chep (sinh san) cua virus, theo doi dap ung voi dieu tri va tien luong benh co kha nang dieu tri thanh cong hay khong. So voi HBsAg, dinh luong DNA cua virus viem gan B co do nhay cao hon trong viec phat hien tinh trang nhiem virus viem gan B. Nguoi ta co the van tim ra DNA cua virus trong mau o nhung truong hop HBsAg chuyen tu duong tinh sang am tinh nhu sau dieu tri voi thuoc khang virus, virus an trong mo gan va khong tiet ra HBsAg, dot bien lam virus giam hoac ngung san xuat HBsAg.

Thong thuong nong do DNA virus de co chi dinh dung thuoc khang virus la ≥105 copies/mL, tuy nhien con phu thuoc tinh trang men gan (cho biet muc do viem xay ra tai gan), cac xet nghiem khac ve nhiem HBV (cho biet giai doan benh, do hoat dong, lay truyen cua virus), tinh trang chuc nang gan (cho biet muc do anh huong cua benh len hoat dong cua gan), benh gan di kem (nhung ton thuong khac cua gan co the lam nang them dien tien benh)...

Gan la bo phan co nhieu chuc nang rat quan trong cho co the nhu chuyen chat co hai thanh chat khong con tac hai va thai ra ngoai, tong hop cac nguyen lieu can thiet cho hoat dong song con cua co the, chuyen hoa chat beo… Ban da nhiem virus viem gan B nen cang can quan tam bao ve la gan thong qua che do sinh hoat, an uong… Ngu du giac, tranh lam viec qua suc, ngung bia ruou, can than khi dung bat cu thuoc nao trong dieu tri cac benh, nen lam cuoc song tinh than vui ve… la nhung bien phap mang lai loi ich thiet thuc cho la gan cua ban.

BS LE THUY TUOI

Nhiễm mạn tính virus viêm gan B là gì ?


Nhiễm mạn tính virus viêm gan B là gì? lúc nào chưa được điều trị? lúc nào cần phải điều trị? là những câu hỏi thường gặp của bệnh nhân và của cả bác sĩ không chuyên khoa.
Đồng thời đây cũng là vấn đề then chốt trong chiến lược điều trị nhiễm virus viêm gan B để đạt hiệu quả cao và ít tốn kém cho người bệnh và xã hội. Như vậy thế nào là nhiễm virus viêm gan B mạn ? Nhiễm virus viêm gan B mạn là sau khi bị nhiễm 6 tháng mà virus không sạch trong cơ thể. Trên xét nghiệm là ở bệnh nhân có HBsAg tồn tại (dương tính) trên 6 tháng. Trong tuyệt đại đa số trường hợp không điều trị viêm gan B cấp tính vì nó có khả năng tự khỏi 90% đến 95% đối với thanh niên hay người lớn bị nhiễm mà không cần điều trị . Vậy ở người nhiễm virus viêm gan B mạn lúc nào chưa được điều trị và lúc nào cần phải điều trị ? Ở người đã nhiễm mạn tính khi hội đủ thêm 2 điều kiện sau đây mới có chỉ định điều trị. Một là Virus viêm gan B đang hoạt động nhân lên đến một mức nào đó tùy giai đoạn của bệnh. Xét nghiệm xác định số lượng virus viêm gan B trong máu có thể biết được sự nhân lên của virus viêm gan B. hai là tình trạng viêm và xơ hóa tại gan đang hoạt động. Chỉ có sinh thiết gan mới cho biết tình trạng viêm và xơ hóa gan. Tuy nhiên phần lớn bệnh nhân ở châu Á cũng như tại VN không chấp nhận, nên có thể căn cứ vào các xét nghiệm gián tiếp như tăng men gan ALT, đo độ xơ cứng của gan (làm Fibroscan), số lượng và tỷ lệ tiểu cầu, thử nghiệm xơ (Fibrotest), thử nghiệm hoạt động viêm (Actitest) v.v...

Thế Giới Yêu Xe

Lượt xem

hit counters hit counter supply chain management
Bí quyết sống khỏe. Powered by Blogger.
 
© Copyright 2013 Bí Quyết Sống Khỏe