

TEST
|
RESULT
|
FLAG
|
LIMIT
|
REFERENCE RANGE (LIMIT 1)
|
KẾT QuẢ
|
BÁO HIỆU
|
GIỚI HẠN
|
GIỚI HẠN BÌNH THƯỜNG
| |
WBC
|
2.7 K/uL
|
L - Low
|
*[ ]
|
4.1 - 10.9 K/uL
|
Số lượng bạch cầu
|
2.700/ul
|
Thấp
|
Thấp - Ngoài giới hạn
|
4.100 - 10.900/ul
|
LYM
|
0.7 25.6%L
|
[* ]
|
0.6 - 10.0 - 40.0%L
| |
Số lượng Lympho (bạch cầu đơn nhân)
|
700 Tỷ lệ lympho 25.6%
|
Trong giới hạn
|
600 - Tỷ lệ 25 - 40.0%
| |
*MID
|
0.3 10.4 %M
|
[* ]
|
0.1 - 0.1 - 12.0 %M
| |
Số lượng các bạch cầu mono, eosinophils…
|
300 Tỷ lệ mid 10.4%
|
Trong giới hạn
|
100 - Tỷ lệ 0.1 - 12.0%
| |
GRAN
|
1.7 64.0 %G
|
L - Low
|
*[ ]
|
2.0 - 40.0 - 75.0%G
|
Số lượng bạch cầu hạt (bạch cầu đa nhân)
|
1700 Tỷ lệ 64.0%
|
Thấp
|
Thấp - Ngoài giới hạn
|
2000 - Tỷ lệ 40.0 - 75.0%
|
RBC
|
4.80 M/uL
|
[* ]
|
4.20 - 6.00 M/uL
| |
Số lượng hồng cầu
|
4.800.000/ul
|
Trong giới hạn
|
4.200.000 - 6.000.000/ul
| |
HGB
|
14.3 g/dL
|
[* ]
|
13.0 - 17.0 g/dL
| |
Huyết sắc tố
|
14.3 g/dL
|
Trong giới hạn
|
13.0 - 17.0 g/dL
| |
HCT
|
43.9 %
|
[ * ]
|
39.0 - 50.0 %
| |
Thể tích khối hồng cầu
|
43.9 %
|
Trong giới hạn
|
39.0 - 50.0 %
| |
MCV
|
91.5 fL
|
[ *]
|
80.0 - 97.0 fL
| |
Thể tích trung bình hồng cầu
|
91.5 fL
|
Trong giới hạn
|
80.0 - 97.0 fL
| |
MCH
|
29.8 pg
|
[ * ]
|
26.0 - 32.0 pg
| |
Huyết sắc tố trung bình hồng cầu
|
29.8 pg
|
Trong giới hạn
|
26.0 - 32.0 pg
| |
MCHC
|
32.6 g/dL
|
[* ]
|
31.0 - 36.0 g/dL
| |
Nồng độ huyết sắc tố trung bình hồng cầu
|
32.6 g/dL
|
Trong giới hạn
|
31.0 - 36.0 g/dL
| |
RDW
|
13.7 %
|
[ *]
|
11.5 - 14.5 %
| |
Tỷ lệ phân bố hồng cầu
|
13.7 %
|
Trong giới hạn
|
11.5 - 14.5 %
| |
PLT
|
151. K/uL
|
[* ]
|
140. - 400. K/uL
| |
Tiểu cầu
|
151.000/ul
|
Trong giới hạn
|
140.000 - 400.000/ul
|

Thông thường khi gan mắc bệnh, nó không có những triệu chứng gì rõ ràng. Như vậy có nghĩa là, các bệnh về gan nếu không quá nghiêm trọng thì thường không có dấu hiệu gì đặc biệt.
Chúng ta cần biết rằng, bản thân gan không có thần kinh gây đau đớn, mà chỉ có ở lớp biểu bì. Khi bên trong gan mắc bệnh, nếu không tiếp xúc với lớp biểu bì thì chúng ta sẽ không cảm thấy đau đớn.
Hơn nữa, gan là cơ quan có tính chịu đựng, chỉ cần còn 30% khả năng làm việc thì cơ thể của chúng ta khó cảm nhận được sự đau đớn, chỉ khi gan bị mắc bệnh, cơ năng của nó có biểu hiện bị suy thoái thì chúng ta mới nhận thấy được triệu chứng đó.
Gan còn là một cơ quan nội tạng cứng và giữa gan với các cơ quan khác trong cơ thể có một mối quan hệ chặt chẽ, cho nên gan thường phải chịu những ảnh hưởng liên đới của các bộ phận khác, ví dụ cơ thể bị bệnh truyền nhiễm, bệnh đái tháo đường hoặc khi mang thai thì đều có thể ảnh hưởng gián tiếp đến cơ năng của gan. Hiểu được tầm quan trọng của gan, bạn phải đặc biệt chú ý chăm sóc và bảo vệ gan thật tốt.
Dưới đây là 9 bí quyết giúp bạn giữ gan được khỏe mạnh:
1/Hãy để cơ thể bạn có thời gian nghỉ ngơi
Ăn cơm xong có thời gian nghỉ ngơi là cách tốt nhất giúp gan khỏe mạnh, sau khi ăn nếu nghỉ ngơi yên tĩnh 30 phút sẽ giúp cơ thể hấp thụ được phần lớn các chất dinh dưỡng. Những người có chức năng gan không tốt nên đi ngủ trước 23 giờ và không nên thức quá 1 giờ đêm. Một số người vì công việc mà luôn phải làm việc vào ban đêm, những người này có khả năng mắc bệnh gan khá cao, ngoài ra hệ thống miễn dịch cũng sẽ bị giảm sút.
2/Bạn cần chú ý giữ cân bằng dinh dưỡng
Bạn hãy rèn luyện cho mình một thói quen ăn uống đúng giờ giấc và định lượng. Nên ăn nhiều rau xanh và các loại hoa quả để đại tiện được dễ dàng, giúp cho gan giảm bớt gánh nặng. Nếu bị bệnh gan bạn cần ăn uống nhiều chất bổ dưỡng cho gan đó là lượng protein cao, lượng mỡ thấp, lượng đường đầy đủ, vitamin phong phú để cung cấp thêm protein và vitamin cho cơ thể.
3/Hãy bỏ thuốc lá
Hút thuốc lá rất có hại cho cơ thể, đặc biệt là có hại cho gan. Sau khi hút thuốc, nồng độ nicotin trong máu sẽ tăng cao, do đó gan sẽ phải làm việc nhiều hơn để giải độc cho các chất nicotin này.
4/Cần phải cai rượu
Đối với các lá gan bình thường, thì uống một chút rượu không những không có hại mà còn có lợi, nhưng nếu uống quá nhiều rượu thì sẽ rất có hại. Còn những người đã bị bệnh gan thì uống rượu không khác gì hành động tự sát, một khi gan đã có bệnh thì không nên uống một chút rượu nào cả.
5/Không nên uống thuốc bừa bãi
Đối với một số thuốc mà tác dụng phụ của nó ảnh hưởng đến gan, nếu mắc bệnh gan thì cơ thể bị sốt, ngoài ra toàn thân bị phát ban, người bị phù, ngứa ngáy, bên cạnh đó người bệnh sẽ có cảm giác chán ăn, khó chịu buồn nôn, trướng bụng. Người bị bệnh gan cần đặc biệt chú ý khi uống các loại thuốc tránh thai và thuốc cảm cúm.
6/Không nên tức giận
“Nộ tắc thương can”, câu đó có nghĩa là khi tức giận sẽ rất có hại cho gan. Theo các nhà miễn dịch học, thì khi tức giận hệ miễn dịch của cơ thể sẽ hoạt động kém đi và làm tổn thương đến gan. Do vậy những người bị mắc bệnh gan nhất thiết không nên nóng giận nhiều.
7/Cần kiêng khem trong ăn uống
Khi lá gan của bạn đã có bệnh, nên tránh ăn những thực phẩm không còn tươi, bao gồm các loại thực phẩm lên men, các loại thực phẩm có chất bảo quản, phẩm màu và các phụ gia, các loại thức ăn hun khói... các gia vị có chất kích thích, một số loại hoa quả như mãng cầu, vải, long nhãn... cũng không nên ăn nhiều.
8/Cần chủ động phòng chống viêm gan
Tiêm vaccin phòng bệnh viêm gan là một trong những cách tích cực nhất để phòng bệnh gan. Hiện nay tại các cơ sở y tế phòng dịch của huyện, thị xã, thành phố đều được cung cấp đầy đủ các vaccin phòng bệnh viêm gan, chúng ta nên chủ động đến để được tiêm phòng đầy đủ. Một điều quan trọng khác là cần chú ý tránh các nguồn lây nhiễm ví dụ như cần tránh hoặc hết sức cẩn thận khi truyền máu, tiêm, châm cứu, xăm, dùng chung bàn chải, dùng chung dao cạo râu... cần sử dụng bơm tiêm một lần, dùng kim châm cứu riêng...
9/Cần duy trì đều đặn kiểm tra gan định kỳ
Nếu bình thường thì 6 tháng - 1 năm bạn nên đi làm các xét nghiệm máu để kiểm tra các chỉ số gan. Còn nếu bạn không may mắc bệnh gan thì cần phải tuyệt đối tuân thủ lời dặn của bác sĩ, kiên trì uống thuốc, không nên vì bệnh tình tiến triển chậm mà sốt ruột đổi bác sĩ, đổi thầy thuốc điều trị, điều đó chỉ càng khiến việc điều trị bệnh gan của bạn khó khăn, gian nan hơn.
Fast-food, uống nhiều rượu bia, ăn nhiều đồ hộp, thịt nguội… là những chế độ ăn làm tăng lượng mỡ dư thừa trong cơ thể, tăng lượng cholesterol trong máu… Hãy thanh lọc cơ thể để có một sức khoẻ tốt nhất nhé.
1. 10 thực phẩm giúp thanh lọc cơ thể
- Quả táo: giảm tỷ lệ cholesterol trong máu
- Quả bơ: chứa chất glutation - một chất chống ô xi hoá vô cùng hiệu quả, giúp chống lại các gốc tự do – nguyên nhân gây ra các bệnh ung thư.
- Ac-ti-sô: tăng cường tiết mật của gan.
- Củ cải đường: giúp cân bằng huyết áp
- Bắp cải: chống kích thích thần kinh và chống mất ngủ
- Tỏi: tăng cường hệ miễn dịch
- Quả kiwi: hỗ trợ hệ tim mạch
- Quả mận: chứa các chất chống oxi hoá
- Tảo: tăng sức đề kháng và sự dẻo dai trong vận động
- Cải xoong: tăng cường việc tiết các enzym giúp đào thải chất độc
2. Hãy chơi thể thao đều đặn
Giải pháp thanh lọc cơ thể của chúng tôi giúp đào thải ngay cả những chất độc nhỏ nhất thâm nhập vào cơ thể chúng ta hàng ngày.
Để thúc đẩy quá trình này xảy ra nhanh hơn và đốt cháy được lượng mỡ dư thừa, hãy kết hợp chế độ ăn uống với luyện tập thể dục đều đặn hàng ngày.
Mỗi ngày hãy dành từ 30 - 60 phút để chơi thể thao: bơi, đi bộ, tập thể dục, chơi tenis…. Ngoài ra, yoga cũng là một môn thể thao được các chuyên gia khuyên nên sử dụng trong nhằm giúp chúng ta có một sức khoẻ tốt.
Yoga cho chúng ta những bài tập thở, chống stress và đặc biệt là loại bỏ những chất độc trong cơ thể.
Củ lạc miền Nam gọi đậu phộng, đậu phụng. Nhưng gọi đúng là quả lạc ở Trung Quốc gọi là quả trường sinh (sống đời). Dinh dưỡng học gọi là “thịt thực vật”. |
| Lạc là món ăn có khắp nơi, cảm giác đầu tiên là thơm, bùi, ngậy và có tác dụng phòng chữa nhiều bệnh. Nhưng ăn thế nào để tận dụng hết tiềm năng của nó thì lâu nay ít ai quan tâm, thậm chí còn để lãng phí rất nhiều những hạt lạc tưởng là quá bình thường này. Theo Đông y, nhân lạc có tính bình, vị ngọt béo. Có tác dụng nhuận phế, hòa vị, trừ đàm, chỉ huyết. Chủ yếu dùng để chữa ho khan, ít sữa, thiếu máu, thiếu tiểu cầu, bệnh dạ dày mãn tính, viêm thận mãn tính, cước khí. Vỏ lụa (hóa sinh y) của nhân lạc chữa xuất huyết như xuất huyết do thiếu tiểu cầu ở bệnh sốt xuất huyết, xuất huyết nguyên phát hay thứ phát. Vỏ lụa cầm máu mạnh hơn nhân lạc 50 lần. Vỏ cứng ngoài cùng đem nấu lấy nước có tác dụng hạ huyết áp, giãn mạch làm lưu thông máu. Một số món ăn từ lạc để chữa bệnh Thiếu máu do huyết hư: Hạt lạc cả vỏ lụa 12-18g chia làm 2, nấu ăn trong ngày. Ăn thường xuyên sẽ có hiệu quả rõ. Thiếu máu, tim hồi hộp, đoản hơi khó thở, đau đầu, suy nhược, hấp thụ kém: Có tác dụng bổ khí, dưỡng huyết, kiện tỳ, dưỡng tâm; dùng: lạc nhân cả vỏ lụa 6-20kg, táo tàu 6-10 quả (bỏ hạt). Đem 2 thứ hầm với nhau quấy nhuyễn. Ngày dùng 1 thang chia 3 lần uống với nước hầm táo tàu. Nếu cho thêm 12-15g long nhãn để ăn càng có hiệu quả cao. Kinh nghiệm tốt cho trường hợp thiếu máu, thiếu sắt. Bổ khí dưỡng huyết: Canh gân bò, đỗ, lạc. Gân chân bò 100g, lạc cả vỏ lụa 100-150g. Hầm cho nhừ nhuyễn lạc là ăn được. Bổ huyết, sinh huyết: Xương sống lợn hầm lạc, xương sống lợn 500g, lạc nhân cả vỏ lụa 100g. Hầm nhừ ăn cái uống nước. Ngày 1 lần. Chữa tiểu cầu giảm, máu chậm đông: Lạc nhân rang để cả vỏ lụa 60g chia làm 4 lần, nhai ăn trong ngày. Có tác dụng bổ tỳ, ích vị, dưỡng huyết, cầm máu. Bổ khí huyết, tăng tiết sữa (do khí huyết kém): Lạc nhân (cả vỏ lụa) 50g, nấm hương 20g, 1 chân giò, thái miếng lấy phần nhiều nạc ít mỡ. Hầm nhừ, ngày ăn một lần hoặc cách ngày một lần. - Lạc nhân 60g, đậu nành 60g, một móng lợn ninh nhừ cho đường hoặc muối để ăn. Bổ khí huyết, thông sữa: 100g mực, 50g lạc nhân cả vỏ lụa, đun chín thêm gia vị. Chảy máu cam: Lạc nhân cả vỏ lụa 250g sắc uống dần. Có thể lấy vỏ lụa lạc nhét vào mũi. Tăng huyết áp: Lạc nhân cả vỏ lụa ngâm giấm trong 5-7 ngày. Nhai hằng ngày sáng tối mỗi lần 5-10 hạt, liệu trình 2 tuần. Hoặc làm nộm lạc cần tây ăn. Viêm hốc mũi: Lạc nhân cả vỏ lụa 7-8 hạt cho vào 1 dụng cụ kim loại để lên bếp lửa cho cháy bốc khói xông mũi cho đến khi hết khói. Ngày một lần, liệu trình một tháng. Phù thũng 2 chân: Lạc nhân cả vỏ lụa 100g, tỏi 30g thái lát, táo tàu 15g, dầu ăn 15g. Đun nóng dầu cho tỏi vào phi thơm rồi mới cho lạc, táo và nước vào nấu cho đến khi nhừ nát. Chia 2 lần ăn trong ngày. Chữa đau họng mãn tính, khản tiếng: Canh lạc dùng 100g lạc nhân cả vỏ lụa cho nước nấu chín thêm gia vị. Ngày ăn một lần. Có thể phối hợp với giá đậu xanh cho vào canh trước khi nhắc ra (ăn tái). Chữa ho khan, lâu ngày, khản tiếng: Lạc nhân 30g sắc lên rồi cho vào 30g mật ong. Có thể thêm táo tàu 30g sắc lên ăn cái uống nước. Hen suyễn: Lạc nhân cả vỏ lụa 15g, lá dâu 15g, đường phèn 15g, sắc kỹ. Ăn dần 2-3 lần trong ngày, có thể để hoặc bỏ lá dâu. Chảy máu ngoài da: Vỏ lụa lạc nhân tán bột hoặc vò nát (nếu không tán được) rắc lên vết thương chảy máu. Thích hợp khi cấp cứu chảy máu nhẹ, sơ cứu trước khi đến bệnh viện. Kiêng kỵ: Nếu theo các bài nêu trên thì trái với lâu nay nói ho kiêng lạc thì nên hiểu là hạn chế vì đang ho nếu có đàm lại ăn chất béo vào nữa là không hợp lý. Ăn nhiều quá sẽ bị đầy vì nhiều dầu khó tiêu cũng gây ho (quan hệ biểu lý phế đại tràng trong Đông y). Còn kiêng dùng lạc khi bị tiêu chảy, trạng thái hàn, có thấp trệ (không tiêu). Người cắt túi mật không nên dùng (thiếu mật để nhũ hóa chất béo), có hiện tượng tụ máu, có nhọt lở vì lạc béo. Kỵ ăn lạc cùng dưa chuột và cua. |
| Theo Sức khỏe và Đời sống |