Phác đồ điều trị VIÊM GAN B MẠN TÍNH

ĐIỀU TRỊ VIÊM GAN B MẠN

BS. Nguyễn Văn Thanh

(Tổng hợp kiến thức cập nhật mới nhất hiện nay trên thế giới về điều trị viêm gan: Thông tin từ hội nghị gan mật và hội nghị tiêu hóa Hoa Kỳ, Châu Âu, Châu Á Từ 2005 - 2009 , cập nhật từ tài liệu của BS. Phạm Thị Thu Thủy thành viên hội gan mật Hoa Kỳ)


VIII - ĐIỀU TRỊ :

A - ĐIỀU TRỊ CHUNG CHO CÁC TRƯỜNG HỢP VGM
1/ Chế độ nghỉ ngơi, ăn uống ( quan trọng nhất)
- Trong đợt hoạt động BN cần được nằm viện, bất động,
- Chế độ ăn: đủ chất , hợp khẩu vị, đủ calo( 2500-3000calo) nhiều đạm( 100g/24h), nhiều sinh tố, hạn chế mỡ. Hạn chế đạm khi có h/c gan- não.
2/ Thuốc : ( Liệu pháp bệnh gan cơ sở(05 nhóm thuốc))
2.1/ HTN ngọt ưu trương 5%,10%,30%.
+ T/d: - Tăng nuôi dưỡng
- Giải độc gan bằng thẩm thấu.
- Cho gan nghỉ ngơi
- Lợi tiểu
- Pha thuốc
* Duphalac : gói 15ml chứa 10g lactulose.hộp 10; 20 gói,.
+ TD : nhuận tràng thẩm thấu, hạ NH3 huyết.
+ CCTD: sự hấp thu NH3 ở ruột phụ thuộc vào độ pH
Lactulose thủy phân bởi các enzym của vi khuẩn đường ruột thành các acid hữa cơ, gây giảm pH ở đoạn kết tràng .
Mặt khác trong mt acid NH3 ->NH4 không khuếch tán được vào máu .
+ TDP : Chướng bụng , phân lỏng; ngứa, đau hậu môn.
+ CĐ : Táo bón , h/c gan não.
+ CCĐ :- Viêm thực thể đường ruột
- H/C bán tắc, tắc ruột.
- Đau bụng không rõ nguyên nhân
- Liều lượng& cách dùng:
Uống 1- 3 gói/24h tùy theo lứa tuổi.
Giảm liều khi có tiêu chảy
2.2/ Thuốc giải độc tb gan :
*Arginin -> tác động trực tiếp vào vòng urê:
+Eganin: viên 200mg.
- Chỉ định : VGC, VGM, gan nhiễm mỡ, suy gan, xơ gan
- Liều: 200mg x 2viên/24h ; chia làm 2 lần uống sau bữa ăn
*Sarganin x 2v/24h
+Aspactat -> kích hoạt vòng urê hoạt động.
- BD : Hepa-Merz, Ornityl, Helpovin, Philospa, Partopa, Helivin, Hepadif
*Hepa- Merz: + cốm pha dd uống: gói 5g, hộp 10 gói;
+ dd tiêm truyền : ống 10ml, hộp 5 ống
+ dd tiêm: ống 5ml, hộp 10 ống.
+ T/d: Hepa- Merz kích thích quá trình khử độc NH3 bằng cách làm tăng quá trình tổng hợp urê trong chu trình urê, và loại trừ NH3 ngoài gan từ các mô, do vậy có t/d giải độc bảo vệ tb gan .
Hepa- Merz còn tạo năng lượng dưới dạng ATP -> từ đó cải thiện cân bằng năng lượng của gan bệnh.
+ T/d phụ :RLTH nhẹ: nôn , ói ( không cần ngừng thuốc)
+ Chỉ định :
- Tăng NH3 huyết trong các bệnh gan: VG, XG, gan nhiễm mỡ, h/c não- gan.
- suy tb gan -> bh toàn thân: ngứa, chán ăn, nổi mề đay
- điều trị khởi phát tiền hôn mê gan , hôn mê gan
+ Chống chỉ định: suy thận
+ Liều lượng & cách dùng:
- Dạng uống: mổi lần 1-2 gói, 1-3 lần /24h. hòa với nước, trà , nước trái cây .
- Dạng tiêm truyền: VGC : 1-2 ống /24h
VGM, XG: 2-4 ống /24h.
Trường hợp nặng thì tăng liều
Tiền hôn mê, hôn mê gan: có thể dùng 8 ống /24h
Không truyền quá 6 ống / 500 ml dịch truyền.
Cần theo giõi nồng độ urê trong huyết tương và nước tiểu
- Dạng tiêm : 2 ống/ 24h x 3-4 tuần
Helivin x 4v/24h
Hepadif x 4v/24h
Phylospa x 4ô/24h

2.3/ Thuốc bảo vệ tb gan, tăng chuyển hóa tb gan:
*-BDD( Biphenyl-Dimetyl-Decarboxylat)
Bd: Oruton, fortex, RB 25; Omitan; Grocel
- TD: Bảo vệ tb gan khi bị tổn thương.
Cải thiện chức năng gan; giải độc; ức chế phát triển của khối U Gan; Tăng cường đáp ứng miễn dịch.
- CĐ: Điều trị dự phòng viêm gan.
Điều trị các chứng RL chức năng gan.
- LL&CD: 25mg x 4viên/50kg/24h x4-12 tuần
* -Silymarin/ Silybin:
-BD: légalon, carsil
-liều: viên bao 70mg uống lần 2v x 2-3lần/24h x4-12 tuần
+Legalon : viên bao 70mg, hộp 40 viên
-T/d: Silymarine có t/d bảo vệ tb gan , chức năng cấu trúc xung quanh và bên trong tb gan; giúp gan hoạt động tốt hơn, tăng hiệu quả thải độc.
-T/d phụ: tiêu chảy, dị ứng( hiếm gặp)
- Chỉ định: RLTH trong các bệnh gan.
liều lượng & cách dùng:
Uống lần 2viên x 2-3 lần/24h
Ưu tiên cho VGMT do rượu
*- Phylathus:
-B/d: amarus, Nirani
*- Phosphatidincholin: livolin
- TP: Phosphatidyl cholin 175mg, Vitamin B1,10mg,B2 3mg, B12 5mg, E 10mg, PP 15mg.
- TD: Bảo vệ , tái tạo tb gan khi tb gan bị tổn thương do VR, Rượu, thuốc…; Điều trị RL CN gan; Giảm tích mỡ máu ở gan.
- LL&CD: 175mg x 4 viên /24h uống s,c sau bữa ăn.
*Cigenol( bảo vệ tb gan) : 3 viên /24h , chia làm 3 lần
*Leverteen( sudo-Korea) : 2 viên /24h
2.4/ Bù Albumin:
CĐ:Khi nồng độ Albumin dưới 35g
+Human Albumin: Lọ 5g,10g x 1tuần
Truyền TM chậm 1ml/1p =19 giọt/ p, không truyền nhanh vì gây sốc -> chết đuối trên cạn vì tăng thể khối tuần hoàn, gây phù phổi cấp
+Morihepamin:
- dịch truyền Acid amin cho BN suy gan, cải thiện h/c não- gan
- ccđ: suy thận , RLCH acid amin
- liều : túi 500ml truyền TM chậm trong 3h
+Methionin : 0,25g x 4viên chia làm 2 lần s,c.
2.5 / Sinh tố: vitamin B1,Vitamin C( Acid Ascorbic)
Vitamin C( Acid ascorbic) : có tác dụng: Acid Ascorbic làm tăng tổng hợp Glycogen dự trữ trong gan và làm tăng chức năng chống độc của gan.
tham gia vào cấu trúc collagen nên đóng vai trò quan trọng trong việc giữ trạng thái bình thường của mao mạch, bảo đảm tính đàn hồi của chúng , thiếu acid ascorbic thì mao mạch dễ bị vỡ-> xuất huyết. Acid Ascorbic có tác dụng điều hòa quá trình chuyễn hóa của Cholesterol và do đó tác dụng phòng bệnh xơ vữa động mạch (một trong những nguyên nhân gây ĐQN) .Acid Ascorbic làm tăng sức đề kháng với sự nhiễm trùng và tăng sức chịu đựng của cơ thể đối với các yếu tố bất lợi của môi trường. Acid Ascorbic thúc đẩy quá trình biến đổi acid folic thành acid folinoic, tham gia tổng hợp và trao đổi các Hormon steroit của tuyến thượng thận,

B - ĐIỀU TRỊ VGB MẠN:

1 - Mục đích điều trị viêm gan siêu vi B mạn tính:
Những mục đích điều trị của viêm gan siêu vi B mãn tính còn bù gồm:
- Cải thiện tình trạng viêm hoại tử tê' bào gan, ngăn ngừa liên triến bệnh gan - Nhiều bệnh nhân phát triển biến chứng hoặc tử vong vì hậu quả của bệnh gan do nhiễm virus viêm gan B mãn tính, vì vậy, tầm quan trọng hàng đầu trong điều trị là cải thiện hậu quả của bệnh gan
- Đạt đư­ợc kiếm soát về mặt miễn dịch thông qua phản ứng chuyển huyết thanh
HBeAg và/hoặc HBsAg - Đối với những bệnh nhân có virus sao chép liên tục thì việc điều trị sẽ là ph­ương tiện kiểm soát đư­ợc bệnh gan mặc dù điều này chỉ đạt được ở một thiểu số bệnh nhân với điề­u trị hiện nay.
- ức chê' sao chép virus - Bởi vì bệnh gan xảy ra là do hậu quả của sao chép virus trong gan, vì vậy ức chế sao chép virus sẽ đem lại cơ hội cải thiện bệnh gan, kiểm soát miễn dịch và có thể giảm nguy cơ lây truyền.
- Cải thiện chất lư­ợng cuộc sống qua việc giảm các triệu chứng, đặc biệt đối với những bệnh nhân có biểu hiện ngoài gan.

2 - Chỉ định điều trị :
Phân tích tình trạng bệnh lý siêu vi gan B cũng như giai đoạn viêm gan rất phức tạp. Tuy nhiên rất quan trọng trong sự quyết định điều trị hay không, giúp tư vấn cho người bệnh về tỷ lệ nguy cơ xơ gan và ung thư gan.
Viêm gan siêu vi B mạn được xác định khi HBsAg (+) trên 6 tháng. Phân loại như sau:
BN có XN HbsAg (+):
+ XN: BHV DNA >= 104copies/ml (cpm) ( 4log10cmp) là mốc chỉ định điều trị bệnh nhân viêm gan B có HbeAg (-)
+ HBV DNA >=105copies/ml (cpm) ( 5log10cmp) là mốc chỉ định dùng từ một thuốc kháng virus trở lên khi HbeAg (+)
+ HBV DNA > 107copies/ml (cpm) ( 7log10cmp) và HbeAg (+) không nên dùng Lamivudin hoặc Adefovir đơn thuần mà phải kết hợp nhiều loại.

* Cụ thể chỉ định và điều trị như sau:
1. Người mang HBV: (HBV carrier)
Tiêu chuẩn: ALT < 2 lần giá trị bình thường
HBVDNA < 10.000 copies/ml đối với HBeAg (-)
< 100.000 copies/ml đối với HBeAg (+)
Không điều trị.
Theo dõi: ALT, HBeAg, AntiHBe, HBVDNA, SAB/3 tháng
2. Dung nạp miễn dịch: (Immune Tolerant)
Tiêu chuẩn: ALT < 2 lần giá trị bình thường
HBVDNA > 10.000 copies/ml đối với HBeAg (-)
> 100.000 copies/ml đối với HBeAg (+)
Điều trị:
a) < 40 tuổi : Không điều trị.
Theo dõi: ALT/1 tháng, HBeAg, AntiHBe, HBVDNA, SAB/3 tháng
b) > 40 tuổi. ALT tăng dai dẵng. Tiền sử gia đình có HCC. Sinh thiết gan nếu có viêm trung bình, nặng, xơ hóa, điều trị như VGBMHĐ.
3. Viêm gan B mạn hoạt động: (Chronic Active Hepatitis B)
Tiêu chuẩn: ALT >= 2 lần giá trị bình thường
HBVDNA > 10.000 copies/ml đối với HBeAg (-)
> 100.000 copies/ml đối với HBeAg (+)
Điều trị:
a) Interferon/Peg Interferon: 24 tuần đối với HBeAg (+)
48 tuần đối với HBeAg (-).
b) LAM, ADV, ETV =< 1 năm
Theo dõi: ALT, HBeAg, AntiHBe, HBVDNA, SAB/3 tháng.
Kết thúc điều trị: (End of treatment)
a) Đối với HBeAg (+): ALT bình thường, chuyển đổi huyết thanh AntiHBe (+). HBVDNA (-) 4 lần liên tiếp.
b) Đối với HBeAg (-): AntiHBe (-) (đột biến promoter) không xác định được thời gian, điều trị cho đến khi HBsAg (-).
Sau khi ngừng điều trị theo dõi ALT, HBeAg, HBVDNA, SAB/mỗi 3 tháng năm đầu. Nếu đáp ứng bền vững, tiếp tục theo dõi mỗi 6 tháng các năm tiếp theo.
4. Viêm gan B mạn không hoạt động: (Chronic Inactive Hepetitis B)
Tiêu chuẩn: ALT =<2 lần giá trị bình thường
HBVDNA < 10.000 copies/ml đối với HBeAg (-)
< 100.000 copies/ml đối với HBeAg (+)
Điều trị: bảo vệ tế bào gan (Silymarin)
Theo dõi: ALT/1 tháng, HBeAg, AntiHBe, HBVDNA, SAB/3 tháng
* Viêm gan siêu vi B mãn tính với những tiêu chuẩn sau đây cần được điều trị:
- Có bằng chứng của bệnh gan trên lâm sàng
- Có nguy cơ bệnh tiến triển (có bằng chứng sao chép virus)
- Nhiễm HBV với biểu hiện ngoài gan (hội chứng thận hư­, bệnh viêm mạch máu)
- Bệnh sử có những đợt viêm gan bùng phát
- Bệnh gan tiến triển (bệnh gan mất bù hoặc xơ gan)
- Nhiễm HBV sau khi ghép gan .

* ĐIỀU TRỊ VIÊM GAN B MÃN TÍNH THÔNG TIN HỘI NGHỊ TIÊU HÓA - GAN MẬT HOA KỲ NĂM 2007
Washington, DC. 19/05 - 24/05/2007

*.HBeAg dương tính


1 IU/ml= 5.6 copies/ml
* Điều trị nên kéo dài ít nhất 6---12 tháng sau khi HBVDNA= âm tính để hạn chế tái phát


*.HBeAg âm tính:


1 IU/ml= 5.6 copies/ml
* Điều trị nên kéo dài ít nhất 6---12 tháng sau khi HBVDNA= âm tính để hạn chế tái phát

THÔNG TIN HỘI NGHỊ TIÊU HÓA – GAN MẬT HOA KỲ - CHICAGO 30/5 - 4/06/2009


3.Bình thường hóa men gan ALT và cải thiện mô học sau 1 năm điều trị



* THÔNG TIN HỘI NGHỊ GAN MẬT HOA KỲ
San Francisco California – 31/10 - 3/11/2008

Đa số những bệnh nhân viêm gan B ở châu Á, châu Phi ….là lây từ mẹ, nên nhiễm bệnh từ lúc mới sinh , khả năng nhiễm mãn tính cao. Ở những bệnh nhân này thường đã có tổn thương gan trước khi có chuyển đổi huyết thanh HBeAg, ngay cả xơ gan phát triển trước 25 tuổi. Sau khi có chuyển đổi huyết thanh , ngay cả HBVDNA âm tính , bệnh vẫn có thể phát triển với biến chứng xơ gan , ung thư gan.
Mục tiêu điều trị là làm giảm biến chứng xơ gan , ung thư gan.
Quan điểm điều trị hiện nay:
-Nếu HBeAg dương tính nên điều trị đến khi HBeAg âm tính , xuất hiện AntiHBe và HBVDNA âm tính , điều này phải đạt được 2 lần , mỗi lần cách nhau 6 tháng
- Nếu HBeAg âm tính phải điều trị đến khi HBsAg âm tính


C – CÁC THUỐC ĐIỀU TRỊ VIÊM GAN B:

1 – Các thuốc điều trị VGB hiện nay:
1.1. Điều hòa miễn dịch:
• Interferon (1992)
• Peg Interferon (2005)
1.2. Chất tương tự Nucleoti(si)des:
• Lamivudin 100mg (1998)
• Adefovir 10 mg (2003)
• Entecavir 0,5mg (2005)
• Telbivudin 600mg (2006)
• Tenofovir 300mg (2007)
• Clevudin 30mg (Levovir)
. Emtricitabine
. Amdoxovir
. BAM-205
. Elvucitabine
. Hepe-X-B
-Pradefovir
-Valtorcitabine
* Để tránh xuất hiện virus kháng thuốc nên điều trị kết hợp 2 loại thay vì dùng đơn độc một loại thuốc
* Adefovir ngăn ngừa sự tái nhiễm siêu vi B ở bệnh nhân viêm gan B mãn tính đề kháng Lamivudine trải qua ghép gan. Nhờ vậy ngăn ngừa siêu vi B phát triển gây tổn thuơng cho gan mới ghép.
* LB80380 là thuốc kháng virus mới , hiệu quả và dung nạp tốt , dùng tốt cho bệnh nhân viêm gan B mãn tính , đã đề kháng với Lamivudine
* Telbivudine hiệu quả trên bệnh nhân siêu vi B mãn tính , đặc biệt bệnh nhân đồng nhiễm HIV.
* Nhiều thuốc viên uống thế hệ mới làn lượt đưa vào sử dụng , giúp ngăn ngừa hiện tượng đột biến virus và đề kháng thuốc: Tenofovir, Clevudine, Pradefovir….

*ENTECAVIR (ETV)
Đã có những nghiên cứu về đáp ứng điều trị của ETV, đây là thuốc có khả năng ức chế men DNA polymerase của siêu vi B.Trong nghiên cứu của R.G.Gish và cộng sự , 709 bệnh nhân viêm gan siêu vi B mãn tính với HbeAg dương tính điều trị với ETV hoặc lamivudine (LVD) trong 48 tuần . Bệnh nhân gọi là đáp ứng hòan tòan khi HBVDNA<0.7 MEq/mL và HbeAg âm tính sau 48 tuần điều trị và theo dõi 24 tuần.. Người ta thấy rằng đáp ứng hòan tòan sau 48 tuần điều trị ở nhóm ETV là 21% , 19% ở nhóm LVD . Sau điều trị 24 tuần theo dõi , ở nhóm ETV 82% có đáp ứng điều trị vẫn còn duy trì tốt , ở nhóm LVD chỉ 73%. Những nghiên cứu khác cũng cho thấy rằng điều trị ETV có đáp ứng điều trị tốt ở nhóm HBeAg dương tính hay âm tính , mô học cải thiện rất nhiều. Đáp ứng điều trị tương đương nhau ở các nhóm siêu vi B , ở các vùng địa lý , chủng tôc , phái …..khác nhau.
Entecavir , thuốc kháng virus mới của công ty BMS (USA) , hiệu quả rất tốt trong điều trị viêm gan B mãn tính , đặc biệt thuốc tác dụng trên cccDNA của siêu B , hy vọng không tái phát bệnh sau khi ngưng thuốc , hiện chưa thấy có hiện tượng đề kháng thuốc.

*PEGINTERFERON ALFA -2a (Peg-IFN)
a/ Ảnh hưởng của những điều trị trước đó đối với hiệu quả của Peg-IFN: Những nghiên cứu cho thấy rằng bệnh nhân cho dù trước đó có điều trị interferon hay lamivudine thì đáp ứng điều trị như nhau đối với Peg-IFN

b/Việc ức chế virus không liên quan việc chuyển đổi huyết thanh HBeAg:
M.W.Fried và cộng sự đánh giá mối tương quan giữa đáp ứng virus và và sự chuyển đổi huyết thanh HBeAg . Nghiên cứu 814 bệnh nhân HBeAg dương tính điều trị Peg-IFN , Peg-IFN +lamivudine, Lamivudine một mình . Ở tuần thứ 48 HBVDNA âm tính 25% nhóm Peg-IFN , 69% nhóm Peg-IFN , 40% nhóm lamivudine.Tuy nhiên tỉ lệ chuyển đổi huyết thanh HBeAg ở tuần thứ 72 là 32% nhóm Peg-IFN , 27% nhóm Peg-IFN , 19% nhóm lamivudine. Như vậy sự ức chế virus không nhất thiết phải có chuyển đảo huyết thanh HBeAg.

c/Đáp ứng bền vững sau 1 năm theo dõi
P.Marcellin và cộng sự đã theo dõi 48 tuần sau khi chấm dứt điều trị của 304 bệnh nhân viêm gan B mãn tính HBeAg dương tính điều trị với Peg-IFN ± lamivudine hoặc lamivudine một mình trong 48 tuần .Ở tuần 24 sau khi chấm dứt điều trị , tỉ lệ bệnh nhân men gan bình thường , HBVDNA <20.000 copy/ml ở nhóm Peg-IFN đặc biệt cao hơn nhóm lamivudine một mình. Ở tuần 48 sau điều trị tỉ lệ đáp ứng sinh hóa và virus cũng tương tự như tuần 24 sau điều trị ở cả 3 nhóm. Điều này cho thấy Peg-IFN cho tì lệ đáp ứng bền vững cao sau 48 tuần chấm dứt điều trị.
Peg-Interferon alfa -2a là Interferon thế hệ mới hiệu quả trong điều trị viêm gan B mãn tính cả trong trường hợp HBeAg dương tính và HBeAg âm tính , thuốc dùng điều trị thời gian ngắn ( 6---12 tháng) , ít tái phát sau khi ngưng thuốc , không có đột biến kháng thuốc ….Tuy nhiên chi phí điều trị cao .

*ADEFOVIR DIPIVOXIL (ADV)

a/ Điều trị lâu dài ở bệnh nhân viêm gan B mãn tính HBeAg âm tính:
ADV 10mg tỏ ra hiệu quả và an tòan trong điều trị lâu dài viêm gan B mãn tính.Tỉ lệ thành công sau 96 tuần điều trị 85% . Tỉ lệ đột biến kháng thuốc sau 48 tuần điều trị 0%, sau 96 tuần 3%, sau 144 tuần 11% , sau 192 tuần 18%. Điều này cho thấy rằng ADV cho hiệu quả bền vững và tỉ lệ kháng thuốc thấp.

b/ Điều trị lâu dài ở bệnh nhân viêm gan B mãn tính HBeAg dương tính:
ADV 10mg mỗi ngày , HBVDNA âm tính sau 48 tuần điều trị 28%, 96 tuần điều trị 45%, 144 tuần điều trị 56%. Tỉ lệ bệnh nhân đột biến kháng thuốc sau 144 tuần điều trị 3,1 %. ADV an tòan và dung nạp tốt.

c/Tỉ lệ và yếu tố nguy cơ đề kháng thuốc:
Có 2 nghiên cứu đánh giá tỉ lệ và tiên đóan đề kháng thuốc ở bệnh nhân viêm gan B mãn tính điều trị ADV. Nghiên cứu của S.Locarnini , đột biến liên quan ADV là N236T tỉ lệ 15% ở tuần 192, đột biến không xuất hiện ở bệnh nhân kết hợp lamividin và ADV . Phân tích cho thấy lượng siêu vi B cao ở tuần 48 tiên đóan đột biến kháng ADV. Trong nghiên cứu S.G.Lim trung bình ở tuần 147 tỉ lệ đột biến 10% (19 bệnh nhân : 11 đột biến dạng N236T , 4 dạn A 181V , 4 dạng hổn hợp). Những bệnh nhân thường thấy HBVDNA tăng gấp 10 lần . Những bệnh nhân kết hợp lamivudine HBVDNA giảm hơn 100 lần sau 12 tuần kết hợp. Nghiên cứu cho thấy tỉ lệ kháng thuốc ở ADV giãm 4 lần so với lamivudine một mình, tì lệ đột biến giảm khi kết hợp

2. Những thuốc điều trị viêm gan B hiện nay được FDA chấp nhận (Hội nghị gan mật hoa kỳ 2007)



3. Đánh giá kết quả điều trị:

+ Đáp ứng thuốc sau 24 tuần điều trị:
- Đáp ứng khi: ALT giảm trở về bình thường, HBV DNA giảm < 60 UI/ml, mất HBeAg ở những bệnh nhân (+) trước đó, HAI giảm > 2 điểm và tổng HAI < 7 điểm
- Đáp ứng hoàn toàn khi HBV DNA giảm tới mức dưới ngưỡng phát hiện =70copies/ml, hay HBV DNA giảm < 60 IU/ml HbsAg (-), HBeAg (-), Anti HBs (+)
- Đáp ứng một phần HBV DNA nằm trong khoảng 60 – 2000 UI/ml, nên xem xét đổi hoặc thêm thuốc khác
- Đáp ứng kém nếu HBV DNA > 2000UI/m, cần thay thuốc
+ Không đáp ứng: nếu sau 12 tuần điều trị NA (Nucleoside Analogue) nhưng HBV DNA giảm < 1 log10 UI/ml (không đáp ứng nguyên phát) hoặc sau 24 tuần điều trị
nhưng HBV DNA giảm < 2 log10 UI/ml, cần xem xét lại phác đồ điều trị.
+ Kháng thuốc HBV DNA tăng lên mặc dù vẫn tuân thủ điều trị NA
+ Tái phát nếu HBV DNA tăng > 1 log10 UI/ml trong huyết thanh sau khi ngừng thuốc 4 tuần ( 2000UI/ml = 104 copies/ml)


D– VẤN ĐỀ VIÊM GAN B KHÁNG THUỐC:

Tỉ lệ kháng thuốc theo số năm điều trị



1 - Tiêu chuẩn Viêm gan B kháng thuốc:
Tiêu chuẩn: HBVDNA tăng 1 log trong lúc đang điều trị
Điều trị: Thêm thuốc. Hoặc đổi thuốc tác dụng mạnh hơn.
Ví dụ: Kháng Lamivudin
Chọn lựa: a) Thêm IFN/Peg IFN hoặc ADV
b) Đổi ETV 1mg hoặc Tenofovir hoặc Telbivudin


2 - HIỆU QUẢ ENTECAVIR TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN BỆNH NHÂN VIÊM GAN SIÊU VI B MÃN TÍNH KHÁNG LAMIVUDINE
Entecavir là tác nhân kháng virus mới có khả năng ức chế được siêu vi B ngay cả trong trường hợp kháng Lamivudine. Vì vậy mục đích nghiên cứu của chúng tôi :
_Đánh giá hiệu quả và tính an toàn của Entecavir trong điều trị bệnh nhân viêm gan B mãn tính có bằng chứng kháng Lamivudine.
_Phân tích các yếu tố ảnh hưởng hiệu quả điều trị.
-Entecavir là tác nhân kháng virus rất mạnh mẽ ,hiệu quả hơn Lamivudine trong điều trị bệnh nhân viêm gan B mãn tính đã kháng Lamivudine.
-Entecavir rất an toàn , hầu như không có tác dụng phụ , không có bệnh nhân nào phải ngưng điều trị vì tác dụng phụ.
-Những bệnh nhân HBeAg âm tính , genotype B , lượng virus thấp dường như cho hiệu quả tốt hơn.
-Tuy nhiên còn lại vấn đề quan trọng là tái phát sau ngưng điều trị , vấn đề kháng thuốc như thế nào , chúng ta cần nghiên cứu thêm với số lượng bệnh nhân lớn hơn trong tương lai.


E – MÁY NHÂN TẠO:

Có nhiều dạng máy gan nhân tạo , nhờ máy này sẽ cứu sống được bệnh nhân trong những trường hợp nguy cấp:
- Suy gan cấp
- Xơ gan nặng
- Suy gan nặng ,ung thư gan đang chờ ghép gan








* TÀI LIỆU THAM KHẢO


1.Thông tin từ hội nghị gan mật Hoa Kỳ - Châu Âu – Châu Á các năm 2005 đến 2009

2 – Thông tin từ: Bs. Phạm Thị Thu Thủy - Trưởng Khoa Gan Thành viên hiệp hội về tiêu hóa Hoa kỳ

3 – Sách Nội tiêu hóa AM1 – Học Viện Quân Y

4 – Bệnh học nội chung HVQY, YHN


Link tải bài viết này: 
http://www.mediafire.com/view/osayg1b8x0s75uc

Những cách phòng ngừa ung thư đơn giản

Ung thư là một căn bệnh đáng sợ đối với con người nhưng trong cuộc sống thường ngày, nếu chúng ta chú ý thì sẽ phòng chống được nó.


 
1. Bỏ thuốc lá

Hầu hết chúng ta đều biết hút thuốc lá có thể gây ra ung thư phổi bởi vì trong thuốc lá có rất nhiều thành phần hóa học và các nguyên tố mang tính phóng xạ đều có thể gây ra ung thư.

2. Mở cửa sổ 
Dưới đất và rất nhiều vật liệu xây dựng có thể “thải” ra các chất khí có thể gây ra ung thư như radon (Rn). Mở cửa sổ thông khí trong phòng sẽ giúp giảm thiểu các chất độc hại này.

3. Lạc quan

Tinh thần căng thẳng, kìm nén tâm trạng, bi quan ưu phiền sẽ khiến chức năng miễn dịch bị ức chế, tạo cơ hội cho các tế bào ung thư xuất hiện, sinh sôi. Nhưng ngược lại, lạc quan, yêu đời lại có tác dụng rất tốt trong việc khống chế các tế bào ung thư. 

4. Thay đổi thói quen ăn uống

Theo một số kết quả nghiên cứu chứng minh, thói quen ăn uống đạm bạc, đơn điệu… là một trong những nguyên nhân làm giảm sức khỏe nói chung, tạo cơ hội cho bệnh ung thư tiến triển.

5. Kiểm tra sức khỏe định kỳ

Rất nhiều khối u là do một số bệnh mãn tính diễn tiến mà thành. Kiểm tra sức khỏe định kỳ có thể giúp phát hiện sớm và kịp thời can thiệp. Như thế, không những có thể bài trừ được các biến đổi bệnh lý trước ung thư, đặc biệt là đối với các khối u thời kỳ đầu, mà còn có thể giúp chúng ta chữa trị  được dứt điểm.
  
6. Nhai kỹ
 
Chất peroxy trong nước miếng có công hiệu đặc biệt để chế ngự các chất gây ra ung thư. Vì vậy, các chuyên gia khuyến nghị “một miếng cơm nhai khoảng 30 lần” để phát huy hết tác dụng của nước miếng, tự nâng cao khả năng bảo vệ sức khỏe.

7. Uống trà

Lá trà có thể chặn đứng chất nitrosamine (một loại chất gây ra ung thư) hợp thành trong cơ thể, đồng thời cũng có tác dụng khống chế chất gây ra ung thư. 

8. Ngủ đủ giấc

Tế bào ung thư sự biến dị của tế bào bình thường trong quá trình phân tách. Đa phần, các tế bào phân chia khi chúng ta đang ngủ. Nếu ngủ đầy đủ, khoa học thì rất có lợi cho cơ thể trong việc khống chế tế bào không phát sinh dị biến.

9. Ăn tỏi

Thường xuyên ăn tỏi vừa có thể ngăn chặn chất nitrosamine hợp thành trong cơ thể, vừa có thể kích thích tế bào khỏe mạnh tiêu diệt tế bào ung thư.

10. Thường xuyên ăn rau xanh

Chất diệp lục, muối Natri ở trong rau xanh là những loại thuốc chống mục rữa rất hữu hiệu, có tác dụng phòng chống ung thư.
  

Hướng dẫn điều trị viêm gan B mạn tính

Hướng dẫn điều trị viêm gan B mạn tính theo hiệp hội nghiên cứu bệnh gan hoa kỳ (AASLD ) 2009
Click: http://www.mediafire.com/?dizgyl5umjj

Xuất huyết giảm tiểu cầu vô căn (miễn dịch)

 
Định nghĩa:
XHGTC miễn dịch là tình trạng bệnh lý trong đó tiểu cầu ngoại vi bị phá huỷ ở hệ liên võng nội mô do sự có mặt cuả một tự kháng thể kháng tiểu cầu.
  Tên gọi : XHGTC vô căn ( idiopathic thrombocytopenic purpura - ITP)
                 XHGTC miễn dịch (immune thrombocytopenic purpura- ITP )
                 XHGTC tự miễn ( autoimmune thrombocytopenic purpura- AITP)
II/ Sinh lý bệnh :
-         Tự kháng thể chống lại kháng nguyên tiểu cầu có bản chất là Ig G, đôi khi kết hợp với  IgM và /hoặc với IgA, rất hiếm khi là IgM đơn độc (5%).
-         Tự kháng thể được sản xuất chủ yếu ở lách.
-         Tiểu cầu có gắn tự kháng thể trên bề mặt sẽ bị đại thực bào ở hệ liên võng nội mô phá huỷ. Hiện tượng này xảy ra chủ yếu ở lách
III/ Chẩn đoán xác định :
   3.1. Hoàn cảnh phát hiện :
-         Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng thường gặp nhất ở trẻ em và người trẻ tuổi.
-         Bệnh thường gặp ở nữ nhiều hơn nam.
-         Dấu hiệu gợi ý là hội chứng chảy máu, hay gặp nhất ở  da và niêm mạc
-         Bệnh có thể được phát hiện tình cờ:  làm xét nghiệm tế bào máu ngoại vi  thấy có số lượng tiểu cầu giảm .
     3.2.Triệu chứng lâm sàng:
  - Hội chứng xuất huyết :    
* XH dưới da đa hình thái,nhiều lứa tuổi( tính chất của xuất huyết do căn nguyên tiểu cầu ).*
*    XH niêm mạc và các tạng
  - Hội chứng thiếu  máu : phụ thuộc vào mức độ chảy máu.
- Gan,lách hạch không to.
  3.3 . Triệu chứng xét nghiệm :
  3.1.1 Huyết đồ :
-         Số lượng tiểu cầu: giảm (nhiều mức độ)
-         Số lượng hồng cầu bình thường hoặc giảm tuỳ mức độ chảy máu .
-         Số lượng bạch cầu bình thường hoặc tăng ( chủ yếu BC hạt do kích thích tuỷ khi mất máu nặng)
 3.1.2 Tuỷ đồ :
-         Tăng sinh dòng mẫu tiểu cầu .
-         Dòng hồng cầu , bạch cầu hạt phát triển bình thường ( hoặc có thể có phản ứng tăng sinh khi có mất máu nặng )
-         Không có hiện tượng xâm lấn tuỷ xương
  3.1.3 Xét nghiêm đông máu :
  + Xét nghiệm đông máu huyết tương:       
-         Howell bình thường hoặc có thể kéo dài 
-         Cefalin kaolin bình thường
-         Tỷ lệ prothrombin : bình thường .
-          Fibrinogen bình thường
+ Các xét nghiệm cho thấy chỉ có các rối loạn liên quan đến tiểu cầu
  -     Máu  chảy kéo dài  
-           Co cục máu : không co hoặc co không hoàn toàn
     3.1.4 Xét nghiệm miễn dịch:
 -  Tăng immunoglobulin (nhất là IgG) gắn trên bề mặt tiểu cầu .
     3.1.5 Xét nghiêm đồng vị phóng xạ  (sử dụng Cr51 ) :
 - Cho thấy tiểu cầu bị giữ và bị tiêu huỷ nhiều ở lách .
IV Chẩn đoán phân biệt
4.1 Giảm tiểu cầu giả :
          Do hiện tượng kết vón tiểu cầu trong EDTA trên invitro. Trường hợp này cần kiểm tra số lượng tiểu cầu trên ống chống đông bằng citrat.
          Có thể do đông dây trong ống máu xét nghiệm.
4.2 Giảm tiểu cầu do các căn nguyên tại tuỷ xương:
 -   Suy tuỷ xương
 -   Lơ xê mi cấp .
 -   Đa u tuỷ xương
 -   K di căn tuỷ xương.
 -   Hội chứng rối loạn sinh tuỷ
  4.3. Giảm tiểu cầu ngoại vi do căn nguyên khác :
-         Do dùng thuốc.
-         Do nhiễm  virus : HIV, HBV, HCV, Dengue, sởi, thuỷ đậu ...
-         Do tiêu thụ trong hội chứng CIVD.
-         Bệnh hệ thống
-         Do cường lách .
-    Sau truyền máu .
V. Tiến triển :
  - Tỷ lệ tử vong : 5% do giảm tiểu cầu nặng.
  - Tiến triển cấp tính : thường gặp ở trẻ em. Khỏi trong 80% trong vòng 2 tháng
  - Tiến triển mạn tính : thường gặp ở người lớn , diễn biến  trên 6 tháng rất dễ tái phát
VI. Điều trị :
  5.1. Điều trị đặc hiệu:   
             Nguyên tắc:  điều trị ức chế miễn dịch
5.1.1.Corticoid liệu pháp
- Prednisolon liều :1 - 2mg/kg/ngày x 4 - 6 tuần. Nếu có đáp ứng thì giảm liều dần và duy trì  
có thể dùng liều trung bình: methylprednisolon 3-5mg/kg/ngày, giảm dần liều                              
 - Trường hợp nặng, nguy cơ chảy máu đe doạ tính mạng có thể dùng corticoid liều cao (bolus): methylprdnisolon 1g/ngày x 3 ngày,
- Khi sử dụng corticoid cần lưu ý các tác dụng phụ của thuốc
5.1.2. Cắt lách :                                                                   
 + Tiêu chuẩn cắt lách:                                                       
   - Chỉ định khi điều trị 6 tháng bằng corticoid thất bại          
   - Sinh mẫu tiểu cầu trong tuỷ còn tốt.
   -  Tuổi dưới 45.
   -  Không có các bệnh lý nội khoa khác 
   -  Bệnh nhân tự nguyện.                                                  
 + Có thể đạt lui bệnh hoàn toàn ở 80% bệnh nhân            
 + Nếu thất bại có thể dùng lại liều Corticoid ban đầu       
 5.1.3.  Điều trị bằng thuốc ức chế miễn dịch :
- Chỉ định khi tiểu cầu vẫn giảm mặc dù đã được điều trị bằng corticoid và hoặc cắt lách                                                                        
- Các thuốc có thể dùng : Cyclosporin A, Immurel, Cyclosphamid, 6MP, Vincristin,                                                         
5.1.4.  Điều trị bằng globulin
-         Thường chỉ định trong trường hợp cấp cứu :  
-         Liều lượng : 0,4g/kg/ngày x 5 ngày)
             hoặc:     1g/kg/ngày x 2 ngày
     Nếu  có hiệu quả, cần điều trị duy trì 10 ngày/lần trong vòng 1®3 tháng.       
  5.2. Điều trị hỗ trợ:
       - Truyền khối tiểu cầu là phương pháp điều trị hỗ trợ.
 + Được chỉ định trong trường hợp có chảy máu nặng đe dọa tính mạng BN hoặc giảm  tiểu cầu quá nặng <20G/l                                                                   
                +  Nên truyền tiểu cầu lấy từ một cá thể có chọn HLA hoặc từ một người  cho trong gia đình và được loại bỏ bạch cầu   
        - Nên truyền khối lượng lớn ngay từ đầu, liều lượng có thể tới 6-8 đơn vị (với KTC pool)/ngày. 
        - Gạn lọc huyết tương    
                                                                                                  Ths. Trần Kiều My
VIỆN HUYẾT HỌC - TRUYỀN MÁU TRUNG ƯƠNG

Chơi thể thao sáng sớm và chiều tối: Dễ đột qụy!

- Không khí buổi sáng có thực sự trong lành như nhiều người vẫn nghĩ? Chơi thể thao lúc sáng sớm, tối muộn liệu có tốt cho sức khỏe?

Sáng sớm, tối muộn: Nhiều khí âm hơn khí dương, hại sức khỏe
Đứng trên phương diện Đông y, Thầy thuốc nhân dân Nguyễn Xuân Hướng - Chủ tịch Hội Đông y Việt Nam giải thích, ban ngày thuộc dương, ban đêm thuộc âm. Ngày có dương khí nên tốt cho sức khỏe, con người cảm thấy minh mẫn, sảng khoái, làm việc hiệu quả nhất, đêm có âm khí, không tốt cho sức khỏe, con người cảm thấy mệt mỏi, uể oải.
Thời điểm có dương khí là từ 6h sáng - 5h chiều, trong đó, khoảng thời gian 6h sáng - 12h trưa là lúc dương khí ở đỉnh điểm (khoảng 80%), còn
Xuất bản Bài đăng
lại, khoảng thời gian sáng sớm và chiều muộn thì có âm khí.
Trên phương diện khoa học, PGS.TS Nguyễn Đinh Tuấn - Chi Cục trưởng Chi Cục Bảo vệ Môi trường TP.HCM cho rằng, vào ban ngày, ánh nắng mặt trời làm nhiệt độ không khí tăng cao, bụi bặm, khói thải của các nhà máy, xe cộ..., nhờ vậy có sự lan tỏa và pha loãng, đồng thời dần tỏa lên bầu trời.
Khi không có ánh nắng mặt trời, nhiệt độ không khí giảm, khả năng phát tán khói bụi kém nên các lớp khói thải chỉ luẩn quẩn ở mặt đất.
Thầy thuốc Nguyễn Xuân Hướng cho hay, âm khí vào trong cơ thể qua đường hô hấp và qua các lỗ chân lông. Vì thế, nên hạn chế ra đường trong khoảng thời gian này.
Âm khí rất lạnh. Với trẻ nhỏ có sức đề kháng kém, phủ tạng chưa hoàn chỉnh, khí âm vào người sẽ gây cảm, viêm phổi, viêm đường hô hấp…
Với những người có tiền sử bệnh tim, thận, gan, dạ dày, huyết áp… thì biểu hiện bệnh sẽ nặng hơn.
Không nên tập thể dục khi chưa có ánh mặt trời. Ảnh:
Không nên tập thể dục khi chưa có ánh mặt trời. Ảnh: flickr.com
Tử vong do chơi thể thao quá sức

Sau 7h30 tối, tại các công viên, vườn hoa, chỗ thoáng mát… bắt đầu đông người đi bộ, tập thể dục. Và lí do muôn thủa của mọi người là: “Đi bộ cho tiêu cơm” – chị Phan Thanh Thủy (Từ Liêm, Hà Nội) cho biết.
Anh Thanh Phong, huấn luận viện môn Karate tại TT Thể dục Thể thao Trịnh Hoài Đức cho hay: Lớp học võ của các em thanh thiếu niên đông nhất vào ca học 6 – 8h tối, gấp 3 lần so với những giờ khác trong ngày, vì đây là khoảng thời gian các em rảnh rỗi nhất sau một ngày làm việc và học tập.
Nhiều cán bộ, viên chức nhà nước cũng có thói quen chơi thể thao sau giờ tan tầm. Ông Nguyễn Lâm Thái (50 tuổi, Trung Hòa, Nhân Chính), giám đốc một công ty xây dựng cho biết, sau giờ tan tầm, cơ quan ông có phong trào chơi thể thao. Chị em phụ nữ thì tìm đến các trung tâm thể dục thẩm mỹ, bơi lội, còn cánh đàn ông thì đánh gôn, tennis.
Bản thân ông Thái thì chiều nào cũng có mặt ở sân gôn từ 6 – 8h tối. “Mình già rồi nhưng vẫn cần phải có hoạt động thể thao hàng ngày thì mới tốt cho sức khỏe. Mà muốn chơi thể thao thì chỉ sau giờ làm mới rảnh rỗi!”.
Thế nhưng, thầy thuốc Nguyễn Xuân Hướng khuyến cáo, không nên tập thể dục, chơi thể thao sau 6h tối và trước 5h sáng - khi không có ánh mặt trời. "Việc tập thể dục, thể thao vào ban đêm chỉ duy nhất có ở Việt Nam, còn các nước khác trên thế giới thì rất hiếm thấy".
Ông Hướng cho biết, khi hoạt động nhiều, tim, trí não… cần một lượng dương khí (oxi) lớn vào cơ thể. Nếu chơi thể thao vào thời điểm có âm khí nhiều hơn dương khí, lượng âm khí vào cơ thể nhiều, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe.
Ngoài ra, theo quy luật, sau một ngày làm việc mệt mỏi, thời gian buổi tối là lúc cơ thể cần nghỉ ngơ, thư giãn. Nếu cố tình trái quy luật này, cơ thể không đủ sức đáp ứng nhiều hoạt động mạnh, rất dễ đột qụy.
Trong cuộc đời thầy thuốc của mình, ông Hướng từng chứng kiến không ít những bệnh nhân do chơi thể thao quá sức, lại vào thời điểm không tốt, dẫn đến đột quỵ và có trường hợp đã tử vong ngay tại chỗ.
Cách đây 25 năm, một giáo sư tại trường ĐH Dược Hà Nội đã qua đời trên sân tennis vì chơi quá sức.

Một cán bộ ở Bộ Ngoại giao (xin được giấu tên) cũng đã tử vong ngay trên sân thể thao khi chơi cầu lông sau giờ làm việc. Nguyên nhân được xác nhận là do người này đã chơi quá sức.

Nếu vì quá bận mà chỉ có thể tham gia chơi thể thao vào thời điểm này thì tuyệt đối không được chơi quá sức, chỉ nên chơi khoảng 1 tiếng đồng hồ.

Báo Khoa học Đời Sống Online

Tại sao cảm lạnh khó “tạm biệt” bạn?

Bạn bị cảm lạnh đã khá lâu nhưng mặc dù áp dụng nhiều cách điều trị, tình trạng vẫn không mấy thuyên giảm, thậm chí còn có dấu hiệu nặng hơn.
Vậy nguyên nhân do đâu mà chứng cảm lạnh vẫn mãi  “viếng thăm” bạn không chịu rút lui?
Thiếu nghỉ ngơi
Nghỉ ngơi và ngủ đủ giấc là cách đơn giản giúp cải thiện hệ miễn dịch. Minh chứng đã chỉ ra rằng nếu ngủ ít hơn 7 tiếng/ngày thì bạn dễ có nguy cơ mắc cảm lạnh gấp 3 lần so với những người ngủ đủ 8 tiếng/ngày.
 Khi bạn đã mắc cảm lạnh bạn nên dành thời gian nghỉ ngơi và ngủ đủ giấc (Ảnh: chicagonow)
Chính vì thế, khi bạn đã mắc cảm lạnh, bạn nên dành thời gian nghỉ ngơi và ngủ đủ giấc, nếu không đây sẽ là một trong những lý do khiến bạn khó bình phục.
Không có thói quen uống nước
Nước đóng vai trò quan trọng trong cơ thể, giúp cơ thể nhanh chóng phục hồi sức khoẻ, đặc biệt giúp bạn phòng tránh nguy cơ bị khử nước trong cơ thể.
Chính vì thế, khi bị chứng cảm lạnh “viếng thăm”, bạn cần bổ sung đủ lượng nước cho cơ thể để không bị khử nước, cải thiện hệ miễn dịch, giúp bệnh nhanh khỏi.
Vận động quá sức
Khi bị cảm lạnh bạn nên dành thời gian nghỉ ngơi, nhưng điều này không có nghĩa là bạn nên nằm bất động trên giường và cũng không thể hiểu là càng vận động nhiều càng tốt.
Vận động nhẹ nhàng, vừa phải sẽ là biện pháp để chứng bệnh cảm lạnh nhanh chóng “rút lui”. Các bài tập nhẹ nhàng bạn có thể thực hiện như thiền, yoga, đi bộ.
Trị bệnh sai cách
Thật tai hại khi nhiều người nhầm lẫn giữa cảm lạnh với cảm cúm hay với chứng bệnh dị ứng, viêm xoang. Xuất phát từ sai lầm đó mà họ đã có những hiểu biết tai hại khi điều trị bệnh, điều này không những khiến tình trạng không được cải thiện mà ngược lại sẽ càng trở nên tồi tệ hơn.
Trước hết bạn cần hiểu rõ cảm lạnh không giống như cảm cúm là do virus gây nên, vậy nên không thể dùng kháng sinh để điều trị cảm lạnh.
Hoặc không nên dùng các loại thảo mộc theo kinh nghiệm để trị bệnh, vì có thể sự không hiểu biết này sẽ gây nên hậu quả thật tai hại.
Lạm dụng thuốc thông mũi
Thuốc thông mũi tác dụng chính là làm giảm tắc nghẹt, đem lại cho bạn cảm giác dễ chịu khi bị nghẹt mũi. Tuy nhiên, nếu biết dùng thuốc thông mũi đúng cách và khống chế thì thuốc sẽ phát huy tác dụng vốn có của nó.
Ngược lại, quá lạm dụng nó thì sẽ gây nên tác dụng “phản chủ”. Các chuyên gia cho rằng, thuốc thông mũi chỉ có tác dụng phần nào giúp bạn dễ thở hơn còn nước mới chính là phương pháp trị liệu hiệu quả nhất trong trường hợp này.
Cho nên, xin nhắc lại một lần nữa là đừng quên bổ sung lượng nước cơ thể cần mỗi ngày trung bình khoảng 8 cốc.
Điều trị cảm lạnh hiệu quả nhất?
Điều quan trọng nhất trong quá trình điều trị chứng bệnh cảm lạnh, là hãy uống đủ lượng nước cơ thể cần để phòng tránh tình trạng khử nước trong cơ thể.
Hơn thế nữa, đây cũng là cách giúp bạn phòng ngừa các chứng bệnh viêm nhiễm khác xâm nhập vào trong cơ thể.
Khi mắc cảm lạnh, bạn nên tránh xa các đồ uống có chứa cafein như trà, cafe hay cola.
Trong chế độ ăn uống, bạn không nhất thiết phải tuân theo một nguyên tắc cứng nhắc nào, hãy ăn theo ý thích và ham muốn của bạn.
Tuy nhiên, những món ăn có chứa nhiều nước, mềm, được hầm nhừ thường được ưa chuộng hơn cả, ví như súp gà, canh bổ dưỡng…
Khổng Thu Hà (theo Web MD)

Làm gì có loại gió nào gọi là gió độc!

Thời điểm giao mùa là lúc nhiều người bị trúng gió. Thế nào là trúng gió? Phải chăng là có gió độc?

Bị "trúng gió" do… điều hòa quá ấm!

Các chuyên gia đều cho hay, không có loại gió độc nào cả. Hiện tượng “trúng gió” mà dân gian hay nhắc đến, Tây y gọi là cảm, còn Đông y gọi là nhóm bệnh “thời khí”.

Đó là do các yếu tố thời tiết nắng, mưa, gió, lạnh, sương giá… tác động vào cơ thể một cách đột ngột khiến tà khí xâm nhập vào cơ thể qua lỗ chân lông và đường hô hấp.

Chị Lan Anh (trú tại đường Trần Huy Liệu, Hà Nội) cho hay, đợt gió mùa vừa qua (khoảng 16 – 17/11), chị để nhiệt độ điều hòa trong phòng khá ấm nên một hôm khi vừa bước chân ra khỏi nhà, sự chênh lệch nhiệt độ khiến chị bỗng thấy xa xẩm mặt mày, ngã và ngất ngay trước cổng nhà.

Rất may, có người hàng xóm phát hiện kịp thời nên đưa chị vào nhà xoa dầu, cho uống nước gừng…Một lát sau chị tỉnh lại và thấy toàn thân ê ẩm.

Thầy thuốc Nhân dân, bác sĩ Trần Văn Bản - Phó Chủ tịch Hội Đông y Việt Nam cho biết rõ hơn về triệu chứng của trúng gió: Ớn lạnh ở gáy, sống lưng, tay, chân, nhức đầu, đau bụng, nôn mửa, tiêu chảy. Trường hợp nặng có thể bị hôn mê, tai biến mạch máu não.

Bất cứ ai cũng có thể bị trúng gió, nhất là những người có sức đề kháng yếu, trẻ nhỏ và người già. Những người có tiền sử hạ đường huyết, hạ huyết áp cũng rất dễ mắc phải.
 
Nên mặc áo ấm để tránh bị trúng gió vào ngày lạnh. Ảnh: Theo goodsmart.vn
Nên mặc áo ấm để tránh bị trúng gió vào ngày lạnh. Ảnh: Internet
 
Điều trị sớm trong 3 ngày đầu

Sau một đêm ngủ dậy, anh Trần Chí Dũng (Kim Mã, Hà Nội) thấy cổ bị đau nhức, không thể quay đầu sang bên trái. Sau 2 – 3 ngày xoa bóp dầu, cổ anh Dũng mới cử động bình thường được.

Tuy nhiên, trường hợp trúng gió của anh Dũng vẫn được coi là nhẹ nhàng. GS Nguyễn Tài Thu – Chuyên gia châm cứu hàng đầu Việt Nam (nguyên Giám đốc Bệnh viện Châm cứu T.Ư) cho biết, mùa lạnh năm nào bệnh viện cũng tiếp nhận nhiều bệnh nhân bị méo mồm do liệt dây thần kinh số 7, bị vẹo cổ cấp, đau thắt lưng cấp... Trường hợp này thường phát hiện đột ngột sau một đêm ngủ dậy.

Anh Phan Tiến Trung (Gia Lâm, Hà Nội) cũng là nạn nhân của đợt gió đầu mùa vừa rồi. Anh cho hay, sáng ngủ dậy, ra mở cửa sổ cho phòng thoáng thì đột nhiên thấy mặt tối sầm lại, một bên miệng giật giật liên hồi. Khi người nhà phát hiện, miệng anh đã bị méo sang một bên. Bác sĩ chẩn đoán anh Trung bị méo miệng do liệt dây thần kinh số 7.

GS Tài Thu còn cho biết, với người bị trúng gió méo miệng, mắt chỉ còn lộ lòng trắng (do liệt cơ khép vòng mi khiến nhãn cầu bị đẩy lên), không nhắm được mắt, miệng và nhân trung méo xệch, chảy nước miếng, nước mắt, nói cười khó khăn...

Theo GS Tài Thu, bệnh liệt dây thần kinh số 7 không nguy hiểm và chỉ cần điều trị bằng châm cứu từ 4-6 tuần là có thể khỏi. Tuy nhiên, có trường hợp phải điều trị 2-3 đợt, rất hiếm trường hợp điều trị không khỏi nhưng tốt nhất là nên điều trị sớm trong 3 ngày đầu.

Cạo gió tùy trường hợp

"Trúng gió" nhẹ có thể tự chữa còn nặng thì phải nhập viện ngay, nếu không sẽ nguy hiểm đến tính mạng.

Tây y chữa chứng bệnh này bằng cách uống thuốc trị cảm, vitamin C để tăng sức đề kháng, đồng thời làm nóng vùng nhiễm lạnh và làm giãn tĩnh mạch.

Còn Đông y chữa trúng gió bằng cách cạo gió, đánh gió bằng dầu nóng. Dùng đồ bạc có cạnh tròn và nhẵn để cạo vào cổ, lưng, bụng, chân, tay để cạo cho đến khi đồ bạc xám lại tức là đã phát tán chướng khí, thông khí huyết.

Sau đó, cho người bệnh uống nước gừng và nước đường gừng nóng, sữa, nước cam, ăn cháo hành, tía tô để giữ ấm cho cơ thể... là khỏi. 

Tuy nhiên, bác sĩ Trần Văn Bản khuyến cáo, không được cạo gió lên phần bụng của phụ nữ có thai, người bị cao huyết áp.

"Trúng gió" cần được điều trị triệt để bởi bệnh dễ để lại di chứng tiềm tàng cho phong thấp, tê thấp, mất khả năng đề kháng sau này.

Cách phòng tránh trúng gió ngày lạnh
- Cần giữ ấm tai, cổ, bàn chân - những chỗ dễ bị nhiễm lạnh nhất.
- Khi đang ở môi trường ấm (nằm trong chăn, ở trong nhà…) mà đột ngột tiếp xúc với môi trường lạnh (mở cửa sổ, đi từ trong nhà ra ngoài trời…) thì cần phải mặc quần áo thật ấm.
- Không uống rượu chống lạnh vì cồn làm cơ thể nóng lên nhưng khi giã rượu sẽ bị lạnh.
- Tắm cần tránh nơi có gió lùa, lau người khô nhanh để không bị mất nhiều nhiệt và nhiễm lạnh.

Khắc phục bệnh huyết áp thấp

Khắc phục bệnh huyết áp thấp

Theo số liệu thống kê, chưa có loại thuốc hiệu quả nào dành cho những người huyết áp thấp. Trên thực tế, trong y học hiện đại làm giảm huyết áp dễ hơn so với làm tăng huyết áp. Vậy cần phải làm gì khi huyết áp giảm xuống?

Trước hết, những người huyết áp thấp cần phải ngủ đẫy giấc, khoảng 9 – 11 tiếng/ngày. Những người thân nên biết điều này để tránh kìm hãm giấc ngủ của những người huyết áp thấp.

Ngoài ra, người huyết áp thấp phải biết thức dậy đúng cách. Vì khi ngủ, máu sẽ tập trung vào khu vực dạ dày (gan, phổi, lá lách), xuất hiện tình trạng thiếu máu não tạm thời. Nếu người huyết áp thấp dậy đột ngột, có thể bị ngất đi (bất tỉnh nhân sự).

Khi thức dậy, cần phải nằm thêm một lúc, tập một vài động tác thể dục đơn giản (vận động các khớp xương chân tay). Sau đó ngồi dậy, để chân trên giường, rồi mới từ từ cho chân ra khỏi giường và vẫn tiếp tục ngồi. Khi đứng dậy nên vịn vào ghế, cứ đứng như thế một lúc.

Một số hình thức tập thể dục rất có lợi với những người huyết áp thấp, ví như đi bộ, bơi, các trò chơi thể thao (không vận động quá mạnh). Nhiều hiện tượng bệnh lý sẽ biến mất sau một thời gian luyện tập.

Bên cạnh đó, huyết áp có thể tăng lên sau khi uống cà phê. Vì thế, đối với những người huyết áp thấp 1 cốc cà phê và 1 – 2 miếng bánh mỳ với bơ hoặc pho mát là một liệu pháp chữa bệnh hiệu quả. Ngoài ra một cốc trà xanh đặc cũng rất có lợi và đừng quên ăn 3 - 4 bữa trong một ngày, chọn thực phẩm giàu protit (đạm) như thịt nạc, cá, tôm...

Top 10 nguyên nhân gây bệnh Gout


Top 10 nguyên nhân gây bệnh Gout
Dùng thực phẩm chế biến sẵn làm tăng nguy cơ mắc bệnh.

1. Gia đình có tiền sử người bị Gout thì bạn rất có nguy cơ bị bệnh.

2. Nam giới có nguy cơ bị bệnh Gout nhiều hơn nữ giới.

3. Uống quá nhiều những đồ uống có cồn cũng dễ mắc Gout.

4. Những người có vấn đề về cân nặng dễ bị Gout. Càng những người béo phì thì khả năng mắc bệnh càng cao.

5. Dùng thực phẩm chế biến sẵn làm tăng nguy cơ mắc bệnh.

6. Những người phải cấy ghép các cơ quan trên cơ thể có nguy cơ bị Gout nhiều hơn những người bình thường.

7. Cơ thể bị nhiễm quá nhiều chì tăng nguy cơ nhiễm Gout.

8. Cơ thể tự sản sinh ra lượng axit uric vượt mức.

9. Một vài loại thuốc làm tăng nguy cơ bị Gout như thuốc lợi tiểu, thuốc chữa bệnh Packinson,thuốc aspirin.

10. Uống vitamin có chứa niacin làm tăng nguy cơ mắc Gout.

Uống cà phê để phòng bệnh gout


Uống cà phê để phòng bệnh gout

Gout là một dạng viêm khớp và thủ phạm gây sưng đau khớp chính là mức axit uric tăng lên trong máu. Căn bệnh này đang gia tăng trên toàn cầu và được xem là mối đe dọa lớn đối với sức khỏe của nam và nữ giới.

Trước đây, các bệnh nhân có nguy cơ bị gout được khuyên là không nên uống cà phê nhưng TS Hyon Choi, công tác tại ĐH British Columbia (Vancouver, Canada) và các đồng nghiệp ở ĐH Y Harvard (Boston, Mỹ) lại đưa ra nhận định ngược lại sau khi tiến hành 1 cuộc khảo sát và theo dõi trong vòng 12 năm.

Cuộc khảo sát với khoảng 50.000 nam giới trong độ tuổi 40 - 75 không có tiền sử bị bệnh gout tham gia đã trả lời các câu hỏi liên quan đến thói quen ăn uống. “Trong vòng 12 năm sau đó, đã có 757 nam giới mắc gout và nguy cơ giảm dần ở những người uống nhiều cà phê. Cụ thể là những người uống từ 4 – 5 tách cà phê/ngày sẽ giảm được 40% nguy cơ; uống từ 6 cốc trở lên sẽ giảm 50 – 60% nguy cơ”, TS Choi cho biết.

Những mày râu uống cà phê lọc hết cafein cũng có mức axit uric thấp hơn trong máu nhưng những người uống trà thì không. Có thể chất chống ôxy hóa mạnh trong cà phê chính là yếu tố tác động tới mức axit uric.

Canh chua bạc hà: Lợi hại khó lường!


Canh chua bạc hà: Lợi hại khó lường!

Tác nhân gây nên chứng gout

Nhiều người nay đã hiểu phần nào về bệnh thống phong (bệnh gout) do tăng chất axit uric trong máu khiến khớp ngón chân, ngón tay bị sưng đau đến độ kêu trời không thấu. Đó là chưa kể đến hậu quả khác như gai cột sống, sỏi thận, bệnh ngoài da... hay thường gặp hơn nữa là tình trạng mệt mỏi, đau không ra đau, bệnh không hẳn bệnh. Cũng có nhiều người đã biết tại sao chất axit uric, một loại phế phẩm từ chuỗi phản ứng thoái biến chất đạm thuộc nhóm purin, lại tăng cao trong máu rồi. Vì không được bài tiết kịp thời và đúng mức nên kết tủa trong khớp, trên đường tiết niệu, dưới da... làm khổ bệnh nhân, như trong trường hợp của những người:

Hoại huyết như sau cơn sốt rét, sau lần chấn thương

Ăn quá nhiều chất đạm từ lòng heo, da gà, cá mòi, lạp xưởng...

Uống quá ít nước lại thêm thói quen nín tiểu trong giờ làm việc

Bị bệnh biến dưỡng như tiểu đường, cường tuyến giáp...

Lạm dụng dược phẩm như thuốc cảm, thuốc corticoid...

Có bệnh trên đường tiết niệu như phì đại tiền liệt tuyến, viêm bàng quang...

Lạm dụng rượu bia.

Nhưng không phải ai cũng rõ là axit uric có thể tăng cao, thậm chí tăng rất cao ngay cả ở người không phạm vào các “trường quy” vừa kể.

Những kết quả vừa cập nhật

Từ nhận xét là không ít bệnh nhân bị tăng axit uric thấy rõ nhưng không hề uống bia, cũng không lạm dụng thịt mỡ, chúng tôi đã tiến hành một số khảo sát lâm sàng với kết quả như sau:

Trong số 20 người tuy cũng có thói quen ăn canh chua nhưng là canh chua măng, hay canh chua lá giang, thay vì bạc hà, thì tỷ lệ tăng axit uric trong máu chỉ là 15%.

Trong số 50 đối tượng có lượng axit uric trong máu cao hơn 7,5 mol (định mức sinh lý tối đa là 5,5 mol) nhưng không uống bia, không lạm dụng thịt mỡ, có 13 người ăn canh chua mỗi tuần tối thiểu 2 lần. Số còn lại, 37 đối tượng, đều có canh chua trong khẩu phần mỗi tuần tối thiểu 4 lần!

Phân tích tiền sử bệnh cho thấy 7 trong 10 trường hợp lên cơn đau như đau cắt ngang khớp kèm theo triệu chứng sưng nóng đỏ xảy ra sau một bữa cơm có canh chua bạc hà.

Trong nhóm thử nghiệm với 30 người có thói quen uống bia và đã bị bệnh gout với xét nghiệm sinh hoá rõ rệt, tất cả đối tượng thường có món canh chua bạc hà trong bữa ăn đều có hàm lượng acid uric cao hơn nhóm không mạnh miệng với món này.

Trị số xét nghiệm của 14 trong số 20 người trước đó có lượng axit uric trong máu trong khoảng 6,5 đến 7,5 mol trở lại bình thường sau hai tuần không ăn canh chua bạc hà mà không cần dùng thuốc.

Trên hai nhóm thử nghiệm trong 10 ngày liên tục, mỗi nhóm với hai mươi đối tượng đều được điều trị bằng Zyloric 200 x 2 viên/ngày, có thể giảm thiểu đến phân nửa lượng thuốc hàng ngày trên nhóm cữ canh chua bạc hà nhưng hiệu năng vẫn tương đồng với nhóm đối chiếu có món canh chua một lần mỗi 2 ngày.

Hai tháng sau khi đã điều trị ổn định, khi kiểm soát lượng axit uric trong máu cho thấy hiện tượng tái phát chỉ xảy ra ở 7 trong số 30 bệnh nhân ăn canh chua bạc hà một cách tiết độ theo kiểu mỗi tuần 1 lần mà thôi.

Lời kết

Canh chua bạc hà rõ ràng là món ăn có mối liên hệ mật thiết với tình trạng tăng axit uric trong máu.

Nhưng nếu phải kiêng món canh chua bạc hà cá bông lau với vị ngọt, chua, cay pha trộn độc đáo thì thà đừng là người... Việt! Ăn món canh chua mà loại bỏ bạc hà thì thà chọn món khác còn hơn! Nhưng chủ động giảm bớt số lần có món canh chua bạc hà trên bàn ăn nếu đã bị bệnh gout, hay khi lượng axit uric đã mấp mé giới hạn bệnh lý, là quyết định vừa chính xác vừa khôn khéo. Nhờ đó bạn vẫn còn cơ hội thưởng thức món canh chua, thay vì đến lúc nào đó vừa phải nhịn đến phát thèm vừa tốn tiền mua thuốc rồi sinh thêm bệnh... tức cành hông!

Theo BS Lương Lễ Hoàng

Thế Giới Yêu Xe

Lượt xem

hit counters hit counter supply chain management
Bí quyết sống khỏe. Powered by Blogger.
 
© Copyright 2013 Bí Quyết Sống Khỏe