CHẨN ĐOÁN LÁCH TO

http://phuongthaoherbal.com/vn/userfiles/image/H%C3%ACnh%20gi%E1%BA%A3i%20ph%E1%BA%ABu/100_%20V%E1%BB%8B%20tr%C3%AD%20c%E1%BB%A7a%20l%C3%A1ch.jpg

CHẨN ĐOÁN LÁCH TO

Lách to là một triệu chứng gặp trong nhiều bệnh, nhưng thường nhất là các bệnh về máu và những bệnh của hệ thống tĩnh mạch cửa, các bệnh của gan. Vì là một dấu hiệu thực thể rất có giá trị trong các loại bệnh kể trên, nên khi thăm khám lâm sàng cần hết sức chú ý phát hiện lách to.

I. CHẨN ĐOÁN

1. Chẩn đoán xác định.

1.1. Bình thường:

Lách nằm lẩn trong lồng ngực, không sờ thấy đuợc, trừ các trẻ nhỏ, thành bụng nhẽo. Chỉ gõ được vùng đục của lách ở đường nách sau, cao độ 2-3cm trong khoảng từ D9 – D10 và D11.

1.2. Kỹ thuật khám lách.

- Nhìn: khi lách to nhiều có thể thấy một vòm nổi lên dưới bờ sườn trái. Trường hợp này ít thấy và không được chính xác.

- Sờ nắn: để xác định của lách ở phía dưới bờ sườn. Người bệnh nằm ngửa hoặc hơi nghiêng về bên phải, tay trái giơ cao lên đầu. Thầy thuốc ngồi bên phải người bệnh. Dùng tay phải đặt nằm lên hạ sườn trái người bệnh ở giữa đường nách trước và đường thẳng dọc kẻ qua giữa xương đòn, vì lách di động theo nhịp thở, nên người bệnh hít vào thật sâu, lách sẽ đụng vào các ngón tay ta.

Cũng có thể ngồi bên trái người bệnh. Khi đó người bệnh nằm nghiêng hẳn về bên phải. Dùng các đầu ngón tay làm móc móc nhẹ về bờ dưới xương sườn vùng lách. Người bệnh hít vào thật sâu, có thể thấy được cực dưới của lách.

Trường hợp lách to nhiều xuống phía dưới thì dung hai bàn tay: một phía trện bụng,một phía dưới lưng để giới hạn vị trí của lách và nhận thấy rõ chỗ eo vào của lách. Đồng thời với cách khám này ta sẽ không thấy dấu hiệu bập bềnh thận hoặc dấu hiệu chạm thắt lưng.

- Gõ: để biết vùng đục của lách ở phía trong lồng ngực, cần gõ mạnh từ trên xuống dưới theo đường nách. Ranh giới giữa vùng trong của phổi với vùng đục của lách cho biết cực trên của lách. Trường hợp lách to có thể chấn đoán một phần vùng Traube của dạ dày, lúc đó gõ vùng này cũng thấy đục.

Lách to thường theo hai chiều: chiều thẳng đứng đi xuống hố chậu và đường nằm ngang đi ra giữa bụng. Tuy nhiên có thể chỉ to theo đường thẳng đứng (lách đứng) hoặc chĩ to theo đừong nằm ngang (lách nằm) không có giá trị về phương diện chẩn đoán xác định lách to cũng như chẩn đoán nguyên nhân bệnh. Có khi người ta chia lách to theo số:

Lách số 1: quá bờ sườn 2cm.

Lách số 2: quá bờ sườn 4cm.

Lách số 3: đến rốn.

Lách số 4: quá rốn.

1.3. Nghiệm pháp có lách.

Lách có thể thay đổi thể tích do co lại vì nhiều nguyên nhân khác nhau như khi gắng sức, cảm động, ngạt thở, chảy máu nhiều… ta có thể xác định mức độ co lại của lách bằng cách tiêm phòng 1mg adrenalin vào dưới da, sau đó theo dõi:

- 15 phút sau khi tiêm, thể tích lách co lại.

- Số lượng hồng cầu máu ngoại biên từng 5 phút một. Thường số lượng hồng cầu tăng nhiều nhất sau 10 phút, số lượng tiểu cầu tăng cũng nhanh. Số lượng bạch cầu tăng chậm hơn.

- Nghiệm pháp co lách, ngoài tác dụng chẩn đoán xác định còn giúp cho biết tình trạng xơ hoá của lách.

1.4. Chọc dò lách:

Rất ít khi áp dụng vì tai biến chảy máu. Có thể hạn chế được một phần tai biến, nếu người bệnh nằm bất động tuyệt đối trên giường 24 giờ sau khi tiến hành phẫu thuật. Phương pháp này có chỉ định khi bằng các phương tiện khác mà chưa tìm được nguyên nhân lách to.

chống chỉ định tuyệt đối chọc lách khi thể trạng dễ chảy máu, nhiễm khuẩn, lách to đau, người bệnh dễ xúc động.

Cuối cùng sau khi đã xác định được lách to, cần theo dõi tiến trểin hằng ngày thể tích của nó bằng vẽ trên da bụng hoặc vẽ trên giấy.

Xquang ít giúp cho chẩn đoán xác định lách to. Thường chỉ dùng để chẩn đoán phân biệt với các khối u khác ở hạ sườn trái.

2. Chẩn đoán phân biệt.

Trường hợp lách to trung bình, thường dễ chẩn đoán bằng phương pháp kể trên.

Khi lách to ít, hoặc ngược lại lách quá to, choán hết hố chậu trái, có khi cả hố chậu phải. Lúc đó cần chẩn đoán phân biệt với:

2.1. Thận trái to:

- Khối u của thận tròn hơn, ở sâu hơn, bờ trong của thận không có chỗ lõm vào.

- Có thể thấy dấu hiệu bập bềnh thận hoặc chạm thắt lưng.

- Gõ phía trước thường trong vì có đại tràng đi ngang qua, khác với lách to, nằm phía trong đại tràng ngang.

Trường hợp khó phân biệt, cần chụp thận với thuốc cản quang để biết rõ hình dáng, kích thước thận và bể thận. Dù sao nhiều trường hợp vẫn có thể nhầm.

2.2. Khối u đại tràng ngang góc lách.

- Khối u tròn, nắn thấy giới hạn, di động dễ hơn.

- Có những rối loạn tiêu hoá, đặc biệt là hội chứng Koenig.

Muốn phân biệt chắc chắn thì dùng Xquang: bơm thuốc cản quang vào đường hậu môn (lavemantharyté), nếu khối u của đại tràng thấy rõ hình khuýêt.

2.3. Khối u dạ dày.

- Ở sâu.

- Có rối loạn về tiêu hoá.

Dùng xquang phân định: chụp dạ dày có thuốc cản quang thấy hình khuyết của dạ dày hoặc chụp dạ dày sau khi uống nước sinh hơi, bờ cong lớn của dạ dày bị đẩy vào trong bởi bờ rang cưa của lách. Phương pháp sau này rất có giá trị nếu khi lách to phát triển dưới cơ hoành rất khó sờ nắn.

2.4. Thùy trái gan to:

Trong một số trường hợp, thuỳ trái của gan lấn hẳn sang bờ sườn trái, khó hơn nữa là vưa gan to vừa lách to. Lúc đó gõ ta sẽ thây một đường phân biệt giữa vùng đục của gan với vùng đục của lách khác với vùng đục liên tục trong thuỳ trái gan to.

2.5. Khối u thượng thận:

Thường có kèm theo các rối loạn nội tiết. Cụ thể phân định bằng chụp bụng sau khi bơm hơi màng bụng.

Ngoài ra có thể nhầm lách to với khối u mạc treo, khối u tuỵ tạng, viêm cơ hạ sườn trái, lao hạch màng bụng.

Dù sao, trong tất cả các trường hợp trên, nếu khám xét kỹ, đúng kỹ thuật, hỏi tiền sử bệnh tỷ mỷ,ta cũng có thể phát hiện được bằng lâm sàng hoặc bằng các phưong pháp cận lâm sàng kể trên.

II. CHẨN ĐOÁN NGUYÊN NHÂN LÁCH TO.

Lách có hai nhiệm vụ chính:

- Là một cô quan tạo máu tan máu và điều chỉnh các chức phận tạo máu.

- Giữ một vai trò tuần hoà: đặc biệt trong hệ thống tĩnh mạch cửa, do đó có liên quan mật thiết đến bệnh ly gan.

Như vậy, đứng trước một ngườibệnh có lách to, cần phải hỏi kỹ, thăm khám lâm sàng tỷ mỷ và tiến hành một số xét nghiệm hướng về bệnh lý của máu và các cơ quan tạo máu khác, các bệnh lý về gan và tuần hoàn tĩnh mạch cửa vì tuy nguyên nhân lách to có rất nhiều nhưng quan trọng nhất vẫn là hai nguyên nhân: các bệnh máu và các bệnh gan, hệ tĩnh mạch cửa.

Thường người ta chia làm hai loại lách to: lách to mạn tính và lách to cấp tính do nhiễm khuẩn.

1. Lách to mạn tính.

Loại này thường gặp nhất và chẩn đoán nguyên nhân cũng khó hơn:

1.1. Lách to trong các bệnh máu.

1.1.1. Bệnh bạch cầu kinh thể tân:

- Thường là người có tuổi.

- Hạch to đều thành chuỗi hai bên.

- Trong một thời gian dài, thể trạng tương đối khá.

- Lách to ít, xét nghiệm huyết đồ thấy tăng bạch cầu, đặc biệt loại tân cầu, màu sắc tiêu bản đồng đều, không có khoảng trống tế bào.

- Tuỷ đồ: tăng bạch cầu thể tân cả loại non lẫn loại già.

- Người bệnh tử vong sau 5 đến 10 năm.

1.1.2. Bệnh Hodgkin:

- Gặp ở người trẻ hơn.

- Hạch thường ở cổ, ở nách, không đối xứng.

- Có khi kh trú trung thất.

- Người bệnh sốt lên xuống dao động.

- Bị ngứa nhiều.

- Huyết đồ: tăng nhẹ bạch cầu đa nhân, tân cầu giảm, đa nhân ưa axit tăng nhiều.

- Chọc dò hoặc sinh thiết hạch thấy có cấu trúc hạch bị đảo lộn, có tế bào Sternberg và những u tế bào ưa axit (granulome éosinophilique). Tử vong sau 2-3 năm tiến triển.

Ngoài ra lách và hạch đều to trong các bệnh:

- Besnier – Baeck Schaumannn.

- Bệnh Sacom lan rộng.

1.2. Lách to kèm theo tăng hồng cầu.

1.2.1. Bệnh Vaquez:

Da, niêm mạc tím sẫm, gan hơi to. Số lượng hồng cầu trong máu tăng rất cao.

1.2.2. Lao lách:

Có thể tăng hồng cầu.

1.3. Lách to kèm theo tăng tuỷ bào:

Bạch cầu tinh thể tuỷ. Lách to nhiều có khi xuống tới hố chậu. Huyết đồ thấy bạch cầu tăng rất cao, 200.000 đến 300.000/mm3, đặc biệt đa số là loại tuỷ bào, tăng từ non đến già không có khoảng trống bạch cầu. Cần chú ý phát hiện những biểu hiện khác của bệnh ở gan, tĩnh mạch, võng mạc, màng phổi.

Tiến triển đến tử vong vài năm, thường là tiến triển sang bệnh bạch cầu cấp.

1.4. Lách to kèm theo hội chứng thiếu máu do tan máu:

Hội chứng thiếu máu do tan máu gồm có:

- Thiếu máu, vàng da nhẹ.

- Bilirubin máu tăng, đặc biệt loại gián tiếp. Stecobilin trong phân tăng.

- Số lượng hồng cầu lưới trong máu tăng cao (trung bình là 1-2%), có khi tới 60- 70%.

- Tuỷ đồ: tuỷ rất giảu hồng cầu, đặc biệt là hồng cầu non.

Có thể là:

1.4.1. Thiếu máu do tan máu tiên thiên (bệnh Minkowski, chauffard):

Em bé xanh xao vàng da nhẹ, lách to vừa. Huyết đồ thấy hồng cầu nhỏ hình bí. Sức bền hồng cầu giảm.

1.4.2. Thiếu máu do tan máu do các bệnh máu của huyết cầu tố:

Bệnh có tính cách di truyền. Trong hồng cầu có những huyết cầu tố bất thường có thể phát hiện được bằng phưong pháp điện di đặc biệt. Trong nhóm này có hai bệnh: bệnh thiếu máu do tan máu với hồng cầu hình bia bắn (cible) thiếu máu vùng biển và thiếu máu do tan máu hồng cầu hình liềm (drépanocytose).

1.4.3. Bệnh thiếu máu do tan máu mắc phải:

Nguyên do nhiểm độc, nhiễm khuẩn, ký sinh vật, các bệnh ác tính.. trong máu thấy có những kháng thể kháng hồng cầu (phản ứng comb trực tiếp và gián tiếp dương tính).

1.5. Lách to kèm theo làm giảm các tế bào máu:

Đó là hội chứng thiếu toàn bộ tế bào máu tiên phát hoặc thứ phát.

III. LÁCH TO TRONG CÁC BỆNH GAN TĨNH MẠCH CỬA

Thường là lách to xơ hoá và xung huyết nhiều, làm cho người bệnh rất dẽ có nguy cơ bị chảy máu đường tiêu hoá do vỡ phồng tĩnh mạch thực quản. Đa số là lách to xơ hoá hậu phát sinh sau khi ứ trệ tuần hoàn tĩnh mạch cửa có tăng áp lực,rất ít khi lách to trước khi tăng áp lực tĩnh mạch cửa. Sau khi chảy máu lách thường bé lại.

Trong những trường hợp này thường tiến hành làm thêm các xét nghiệm:

- Chụp thực quản với barit để tìm chỗ phồng tĩnh mạch thực quản.

- Làm huyết đồ, tuỷ đồ.

- Thăm dò chức năng gan.

- Chụp hệ thống tỉnh mạch lách – cửa, đồng thời do áp lực tỉnh mạch lách (trung bình 10 cm – 15 cm nước).

IV. LÁCH TO TRONG CÁC NGUYÊN NHÂN KHÁC.

Thường là chẩn đoán khó.

- Nhiễm lý sinh vật:

+ Sốt rét kinh diễn: cần chú ý tìm nguyên do này trong hoàn cảnh hiện tại của nước ta. Da thường xanh xạm. Cần tìm ký sinh vật sốt rét bằng giọt đặc hoặc có thể sau khi làm nghiệm pháp co lách.

+ Ngoài ra một số ký sinh vật có thể gây lách to đơn độc ít gặp ở Takala Azar. Bệnh sán máng (bilharziose…).

- Có thể là một bệnh của máu (bệnh bạch cầu thể ẩn),

- Bệnh banti giai đoạn đầu.

- Bệnh nhiễm khuẩn kinh diễn như lao, lách.

- U nang nước lách (kyste hydatique), các u ác hoặc lành.

- Rối loạn mỡ (dyslipoidose) gây ứ trệ ở lách.

Lách to cấp tính.

Trong những trường hợp này, lách to chỉ là một dấu hiệu tức thời hoặc rất phụ, nằm trong một bệnh cảnh có nhiều đặc điểm.

Thường gặp lách to trong:

- Nhiễm khuẩn máu do các loại vi khuẩn mủ thường.

- Thương hàn hoặc phó thương hàn.

- Viêm màng trong tim cấp hoặc bán cấp, lao kê, xoắn khuẩn Rickettsi…

Cần nhớ có ba bệnh cấp tính, trong đó lách to là một dấu hiệu quan trọng.

- Bệnh bạch cầu cấp: Trẻ tuổi, sốt cao, chảy máu dưới da,hạch to có viêm họng.huyết đồ thấy bạch cầu tăng cao, đa số là non. Có khoảng trống tế bào.

- Bệnh viêm màng trong tim Osler: người bệnh thường có bệnh tim cũ, sốt dai dẳng, cấy máu có thể (+).

- Bệnh tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm khuẩn: người bệnh sốt, viêm họng, nổi hạch ở cổ. Huyết đồ thấy tăng monoxit nhiều trong máu. Làm phản ứng Paul Burne thấy (+).

V. KẾT LUẬN

Lách to là một dấu hiệu thường gặp trên lâm sàng, chẩn đoán xác định thường là dễ, nhưng chẩn đoán nguyên nhân thường nhiều khi rất khó khăn.

Trừ nguyên nhân sốt rét kinh diễn gây lách to là một bệnh còn nhiều ở xứ ta, đứng trước một người có lách to, ta cần nghĩ đến các bệnh về máu và về gan, đặc biệt là bệnh xơ gan có gặp nhiều trong nhân dân do đời sống khổ cực trước đây.

bệnh sốt rét có phải là nguyên nhân gây lách to?

Tại sao sốt rét gây lách to?

Xin quý báo cho biết, bệnh sốt rét có phải là nguyên nhân gây lách to? Khi bị lách to do bệnh này thì phải điều trị như thế nào?

Trần Mạnh Thắng(Lâm Đồng)

Lách to có thể do nhiều nguyên nhân, trong đó có bệnh sốt rét. Lách phản ánh mức độ sốt rét lưu hành ở một địa phương và mức độ miễn dịch trong nhân dân. Với những trường hợp mới đến vùng sốt rét, tỷ lệ ký sinh trùng có thể cao hơn tỷ lệ lách to. Với dân sống trong vùng sốt rét lưu hành, tỷ lệ lách to có thể cao hơn tỷ lệ ký sinh trùng. Lách ở những người bệnh mắc sốt rét thường sưng to, nặng khoảng 500-1.000g hoặc hơn tùy theo thời gian bị sốt rét. Ở thời kỳ sơ nhiễm, người bệnh thấy hơi đau dưới bờ sườn, khám thấy lách sưng, chưa rắn chắc và có thể trở về bình thường nếu được điều trị tốt. Ngược lại, nếu người bệnh sốt rét tái diễn nhiều năm, không điều trị tốt, đặc biệt những người sống trong vùng sốt rét lưu hành nặng, lách sẽ bị xơ hóa, rắn chắc, không co lại được. Ngoài ra, bệnh sốt rét cũng có thể làm rối loạn chức năng của các bộ phận khác trong cơ thể như gây thiếu máu, gan to, suy thận... Do vậy, khi bị sốt rét, người bệnh cần được thăm khám tỉ mỉ và được điều trị tiệt căn tại các cơ sở y tế. Tuy nhiên, những bệnh nhân sốt rét cần tuân thủ nghiêm ngặt phác đồ điều trị của bác sĩ, tránh hiện tượng kháng thuốc của ký sinh trùng khiến bệnh ngày càng nặng và khó chữa.

Không phải cứ loãng xương là uống canxi




Có những bệnh nhân bị loãng xương nặng nhưng không do thiếu canxi, thậm chí lượng canxi trong máu còn cao hơn bình thường. Chính vì vậy không phải cứ bị loãng xương là uống canxi.

Bác sĩ Lê Anh Thư (Bệnh viện Y dược TP HCM) cho biết, do sợ bị loãng xương nên rất nhiều người đã tự ý dùng các thực phẩm có hàm lượng canxi cao mà không biết rằng điều này rất nguy hiểm. Bởi loãng xương không chỉ đơn thuần do thiếu canxi, mà còn hàng loạt các nguyên nhân khác.

Chẳng hạn: thiếu vitamin D, thiếu protit, tăng hoạt động các tế bào hủy xương, hạn chế hấp thụ canxi ở ruột, bị các bệnh nội tiết, suy giảm hoóc môn sinh dục, giảm hoạt động của các tế bào sinh xương, lạm dụng các thuốc kháng viêm nhóm corticoide. Vì thế nếu cơ thể thiếu vitamin D gây kém hấp thụ canxi thì việc cung cấp thêm canxi là vô nghĩa.

Bác sĩ Thư cũng khuyến cáo, việc dùng bừa bãi các chế phẩm giàu canxi rất nguy hiểm. Khi cơ thể thừa canxi, tùy mức độ có thể xuất hiện các biến chứng từ nhẹ đến nặng như ăn không ngon miệng, táo bón, buồn nôn, mệt mỏi, đau cơ, đau xương, mất nước (do tiểu nhiều). Lượng canxi thải qua đường tiểu nếu tăng lên, nó sẽ kết hợp với phốt phát hoặc oxalat tạo thành sỏi thận.

Với các loại sữa bột được quảng cáo giúp phòng chống loãng xương đang bán trên thị trường hiện nay, thực ra chỉ có tác dụng cung cấp nhiều dinh dưỡng (trong đó có canxi) cho cơ thể. Tuy nhiên, ngay cả sữa đặc bình thường cũng đã cung cấp đủ lượng canxi và dinh dưỡng cần thiết. Với hàm lượng canxi cao, sữa chỉ cung cấp canxi chứ không phòng chống loãng xương.

Theo bác sĩ Thư, để phòng bệnh này, cách tốt nhất không phải là uống nhiều sữa giàu canxi mà hạn chế uống cà phê, rượu, trà, có chế độ dinh dưỡng cân đối, ăn uống điều độ và vận động nhẹ hằng ngày.

Nhu cầu canxi hằng ngày của một người trung bình là 400-500 mg, còn ở phụ nữ mang thai thời kỳ cuối và phụ nữ cho con bú sáu tháng đầu là 1.000-1.200 mg. Bữa ăn hằng ngày của Việt Nam chủ yếu là các thực phẩm giàu canxi như tôm, tép, ốc, cua, trứng, và các loại rau, đậu... Vì vậy những người ăn uống bình thường và cơ thể không mắc các bệnh gây giảm hay kém hấp thụ canxi, không nên sợ thiếu chất này.

Khi bị loãng xương, người bệnh cần được bác sĩ xác định chính xác những yếu tố gây chứng loãng xương của mình để có hướng điều trị thích hợp.

Creatinine là gì

· Creatinine là gì?

· Tại sao đo creatinine trong máu lại quan trọng.?

· Mức bình thường creatinine trong máu là bao nhiêu?

Creatinine là một chất hoá học được thoái hoá từ chuyển hoá của cơ. Creatinine được sản xuất từ creatine, một phân tử rất quan trọng trong việc tạo năng lượng của cơ. Gần 2% creatine trong cơ thể được biến đổi thành creatinine mỗi ngày. Creatinine được vận chuyển trong máu đến thận. Thận sẽ lọc creatinine và thải nó ra ngoài theo nước tiểu.

Tại sao đo creatinine máu lại quan trọng?

Thận duy trì nồng độ creatinine trong máu ở mức bình thường. Creatinine là một chất đáng tin câỵ trong việc đánh giá chức năng thận. Vì vậy khi thận bị suy sẽ làm tăng nồng độ creatinine trong máu. Khi nồng độ creatinine tăng cao một cách bất thường báo hiệu rối loạn chức năng thận hay thận bị suy, ngy cả trước khi người bệnh có triệu chứng suy thận. Vì vậy mà xét nghiệm créatinine trong máu và nước tiểu là xét nghiệm thường qui rất quan trọng để đánh giá chức năng thận

Mức creatinine bình thường trong máu là bao nhiêu?

Bình thường mức creatinine trong máu khoảng 0.6 đến 1.2 milligrams (mg)/ deciliter (dl) ở nam và 0.5 đến 1.1 milligrams /deciliter ở nữ. (theo hệ thống đơn vị 1 mg= 1/1000gam, và 1ml = 1/1000 lít.)

Ở những người trẻ lực lưỡng hay tuổi trung niên, có thể có mức creatinine cao hơn mức bình thường chung của dân số. Mặt khác, ở những người lớn tuổi, mức creatinine có thể thấp hơn mức bình thường. Ở trẻ em, mức creatinine bình thường vào khoảng 0,2mg/dl hay hơn, tuỳ thuộc vào sự phát triển của khối cơ ở trẻ. Ở người chỉ có một thận thì mức creatinine bình thường vào khoảng 1,8-1,9 mg/dl. Khi mức creatinine ở em bé trên 2.0 mg/dl và trên 10 mg /dl ở người lớn thì cần phải chạy thận nhân tạo để lấy những chất có hại ra khỏi cơ thể ( vì lúc này thận không còn lọc được tốt nữa).
Đôi lúc, có một số thuốc có thể là nguyên nhân làm tăng mức creatinine lên cao một cách bất thường

Hỏi đáp về kết quả xét nghiệm

Đánh giá xơ gan

Vao nam 1997, toi di xet nghiem sieu vi B, ket qua duong tinh. Toi khong dieu tri thuoc gi cho den nam 2006 di xet nghiem lai va ket qua la: HBS AB: Pos S/co: 4446, den nam 2007: HBSAG: Pos index => 1000.0; SGOT. (AST): 22 ; SGPT (ALT): 34; HBeAg: Pos S/co = 18.182.

Sau do toi bat dau dieu tri bang cac loai thuoc: Victron 100mg, Ozinaolin 80mg, philoRPA-S, Silitrol 100, Thymolan, Lavimodine. Hien toi dang dieu tri thuoc Baraclude ngay 2 vien. Khi xet nghiem dinh luong HBV-DNA co ket qua nhu sau 521x10^0 copies/mL huyet tuong; HBeAg: Pos S/co: 15.315; SGOT (AST): 19.5;SGPT (ALT): 26.4; A.F.P: 3.04; fibroscan: 7.2 KPa.

Xin hoi nhu vay tinh hinh cua toi nang hay nhe? Co the chua cach khac khong?

(Ngo Van Sinh)

- Tra loi cua phong mach online:

O cac nam 2006 va 2007 xet nghiem mau cua ban cho ket qua HBsAg (chu khong phai HBsAB nhu ban ghi o ket qua nam 2006) duong tinh, cho thay ban da nhiem virus viem gan B (HBV) man tinh. Ban con co HBeAg duong tinh chung to virus nay trong co the ban co muc do sinh san cao ca vao nam 2007 cho den ket qua gan day, mac du xet nghiem dinh luong DNA cua HBV cho thay ket qua khong cao.

Cac men gan (ALT, AST) la chi so danh gia tinh trang viem xay ra tai gan; trong truong hop cua ban cac lan do men gan deu ra ket qua trong gioi han binh thuong cho thay hien tai cac te bao gan khong bi huy hoai. Tuy nhien, co le vi ban co HBeAg duong tinh nen ban duoc chi dinh cac thuoc ben tren, trong do co mot so thuoc diet virus (Victron, Lamivudine, Baraclude).

Ket qua do do dan hoi cua gan Fibroscan nham danh gia tinh trang xo hoa gan cho thay gan ban bi xo hoa muc do trung binh. Do co the la hau qua cua viem gan man dien ra trong hon 10 nam nay. Ket qua cua men gan va Fibroscan cho thay gan ban co le van con kha nang lam viec bu tru tot.

Tom lai, tinh trang cua ban hien nay la HBeAg duong tinh, luong DNA cua HBV o muc thap, men gan nam trong gioi han binh thuong, gan con kha nang bu tru nen chi can theo doi tai kham moi 3 - 6 thang, lam cac xet nghiem lai de danh gia dien tien benh. Thuoc chong virus thuong duoc chi dinh khi luong DNA cua virus tren 105 copies/mL, men gan tang, gan mat kha nang bu tru.

Nhieu thuoc chua cac benh khac co tac dung tren gan nen khi su dung ban nen luu y den cac tac dung nay. Ngung bia ruou cung lam cham dien tien xo gan. Giu ve sinh an uong de phong tranh nhiem virus viem gan A vi neu bi viem gan A kem se lam tang ap luc len gan da bi ton thuong san.

Vi ban co HBeAg duong tinh nen chu y phong tranh lay benh cho nguoi khac: di kham benh va chich ngua viem gan B cho nhung thanh vien chua mac trong gia dinh, dung rieng do ca nhan nhu ban chai rang, dao cao rau, do cat mong tay... ap dung bien phap an toan tinh duc. Ban cung nen xet nghiem kiem tra tinh trang nhiem virus viem gan C cua minh.

* Toi da xet nghiem viem gan sieu vi B: PCR dinh luong Hepetitis B virus DNA, co ket luan: 512 x 100 copies/mL huyet tuong (nguong phat hien >= 250 copies/ mL huyet tuong). Toi muon hoi ket qua nhu vay la cao hay thap

(Mercury Stellar)

Luong DNA cua virus viem gan B (HBV) trong mau cua ban nhu vay la thap. Tuy nhien ban van nen thuc hien cac xet nghiem theo doi tinh trang nhiem virus viem gan B moi 6 - 12 thang.

Rieng ve theo doi DNA cua virus viem gan B trong huyet thanh, day la cong cu quan trong xac dinh tinh trang sao chep (sinh san) cua virus, theo doi dap ung voi dieu tri va tien luong benh co kha nang dieu tri thanh cong hay khong. So voi HBsAg, dinh luong DNA cua virus viem gan B co do nhay cao hon trong viec phat hien tinh trang nhiem virus viem gan B. Nguoi ta co the van tim ra DNA cua virus trong mau o nhung truong hop HBsAg chuyen tu duong tinh sang am tinh nhu sau dieu tri voi thuoc khang virus, virus an trong mo gan va khong tiet ra HBsAg, dot bien lam virus giam hoac ngung san xuat HBsAg.

Thong thuong nong do DNA virus de co chi dinh dung thuoc khang virus la ≥105 copies/mL, tuy nhien con phu thuoc tinh trang men gan (cho biet muc do viem xay ra tai gan), cac xet nghiem khac ve nhiem HBV (cho biet giai doan benh, do hoat dong, lay truyen cua virus), tinh trang chuc nang gan (cho biet muc do anh huong cua benh len hoat dong cua gan), benh gan di kem (nhung ton thuong khac cua gan co the lam nang them dien tien benh)...

Gan la bo phan co nhieu chuc nang rat quan trong cho co the nhu chuyen chat co hai thanh chat khong con tac hai va thai ra ngoai, tong hop cac nguyen lieu can thiet cho hoat dong song con cua co the, chuyen hoa chat beo… Ban da nhiem virus viem gan B nen cang can quan tam bao ve la gan thong qua che do sinh hoat, an uong… Ngu du giac, tranh lam viec qua suc, ngung bia ruou, can than khi dung bat cu thuoc nao trong dieu tri cac benh, nen lam cuoc song tinh than vui ve… la nhung bien phap mang lai loi ich thiet thuc cho la gan cua ban.

BS LE THUY TUOI

Nhiễm mạn tính virus viêm gan B là gì ?


Nhiễm mạn tính virus viêm gan B là gì? lúc nào chưa được điều trị? lúc nào cần phải điều trị? là những câu hỏi thường gặp của bệnh nhân và của cả bác sĩ không chuyên khoa.
Đồng thời đây cũng là vấn đề then chốt trong chiến lược điều trị nhiễm virus viêm gan B để đạt hiệu quả cao và ít tốn kém cho người bệnh và xã hội. Như vậy thế nào là nhiễm virus viêm gan B mạn ? Nhiễm virus viêm gan B mạn là sau khi bị nhiễm 6 tháng mà virus không sạch trong cơ thể. Trên xét nghiệm là ở bệnh nhân có HBsAg tồn tại (dương tính) trên 6 tháng. Trong tuyệt đại đa số trường hợp không điều trị viêm gan B cấp tính vì nó có khả năng tự khỏi 90% đến 95% đối với thanh niên hay người lớn bị nhiễm mà không cần điều trị . Vậy ở người nhiễm virus viêm gan B mạn lúc nào chưa được điều trị và lúc nào cần phải điều trị ? Ở người đã nhiễm mạn tính khi hội đủ thêm 2 điều kiện sau đây mới có chỉ định điều trị. Một là Virus viêm gan B đang hoạt động nhân lên đến một mức nào đó tùy giai đoạn của bệnh. Xét nghiệm xác định số lượng virus viêm gan B trong máu có thể biết được sự nhân lên của virus viêm gan B. hai là tình trạng viêm và xơ hóa tại gan đang hoạt động. Chỉ có sinh thiết gan mới cho biết tình trạng viêm và xơ hóa gan. Tuy nhiên phần lớn bệnh nhân ở châu Á cũng như tại VN không chấp nhận, nên có thể căn cứ vào các xét nghiệm gián tiếp như tăng men gan ALT, đo độ xơ cứng của gan (làm Fibroscan), số lượng và tỷ lệ tiểu cầu, thử nghiệm xơ (Fibrotest), thử nghiệm hoạt động viêm (Actitest) v.v...

XƠ GAN (Phần 1)

XƠ GAN (Phần 1)

Tổng quan?
Mỗi năm, có gần 25000 người Mỹ chết vì xơ gan - một bệnh mà gây ra sẹo không hồi phục ở gan. Xơ gan đặc biệt nguy hiểm vì sự có mặt của mô sẹo làm cho gan khó thực hiện những chức năng thiết yếu cho sự sống và sức khỏe. Trong số những nhiệm vụ chính, gan khử độc các chất có hại, lọc máu và sản sinh các chất dinh dưỡng sống còn.
Ở giai đoạn đầu, xơ gan hiếm khi gây các dấu hiệu và triệu chứng. Nhưng khi chức năng gan kém đi, bạn có thể bị mệt mỏi, kiệt sức, buồn nôn, sút cân và phù chân và bụng. Da và củng mạc mắt sẽ bị vàng, và có thể ngứa nhiều do lắng đọng mật ở da.
Ở Mỹ, nghiện rượu và nhiễm virus viêm gan C mạn tính là hai nguyên nhân chính của xơ gan.
Nhưng nhiều yếu tố khác có thể dẫn đến bệnh, gồm một số bệnh di truyền, tổn thương đường mật, rối loạn miễn dịch và tiếp xúc lâu dài với một số độc chất trong môi trường.
Mặc dù tổn thương gan do xơ gan là không thể phục hồi, bệnh thường tiến triển chậm và các triệu chứng thường kiểm soát được. Ðiều trị đặc hiệu cho xơ gan phụ thuộc vào nguyên nhân. Người bị xơ gan do viêm gan có thể được điều trị bằng các thuốc kháng virus, trong khi xơ gan do rượu có thể chỉ cần cai rượu. Khi tổn thương nặng đến mức chức năng gan suy giảm nghiêm trọng, ghép gan có thể là biện pháp duy nhất.
Các dấu hiệu và triệu chứng
Bạn có thể không có các dấu hiệu và triệu chứng của xơ gan ở giai đoạn đầu. Nhưng khi có nhiều mô sẹo thay thế mô lành và chức năng gan suy giảm, bạn có thể có một số triệu chứng sau:
- Chán ăn
- Sụt cân
- Buồn nôn
- Sao mạch màu đỏ nhỏ dưới da hoặc dễ bị bầm tím
- Yếu
- Mệt mỏi
- Vàng da, và mắt, nước tiểu sẫm màu
- Chảy máu từ tĩnh mạch thực quản hoặc ruột
 - Giảm hứng thú tình dục
- Cổ chướng (có dịch trong ổ bụng)
- Ngứa bàn tay, bàn chân và cuối cùng là toàn cơ thể
- Phù cẳng chân, bàn chân do ứ dịch
- Lú lẫn, như hay quên hoặc khó tập trung (bệnh não)
Nguyên nhân
Có khối lượng từ 1,2-1,6 kg, gan là nội tạng lớn nhất của cơ thể. Nó nằm ở bên phải ổ bụng, ngay dưới các xương sườn dưới. Gan khỏe mạnh thực hiện hơn 500 chức năng sống, gồm xử lý hầu hết các chất dinh dưỡng hấp thu từ ruột, loại bỏ thuốc, rượu và các chất độc hại khác ra khỏi máu và sản sinh mật - chất lỏng màu lục được giữ ở túi mật giúp tiêu hóa chất béo. Gan cũng sản sinh cholesterol, các yếu tố đông máu và một số protein khác.
Vì sự phức tạp của gan và sự tiếp xúc của nó với rất nhiều chất độc, gan đặc biệt dễ bị bệnh.
Nhưng gan có khả năng tái tạo đáng ngạc nhiên - nó có thể tự chữa lành bằng cách thay thế hoặc sửa chữa các tế bào bị tổn thương. Tuy nhiên trong xơ gan, quá trình lành bệnh rất kém. Ðể đáp ứng với tổn thương mạn tính, các tế bào hình sao tăng mạnh về kích thước và số lượng. Ðiều này dẫn đến hình thành quá nhiều mô sẹo cản trở khả năng hoạt động của gan. Và mặc dù các nhóm tế bào có thể tiếp tục tái sinh, song kiểu tái sinh này không còn bình thường nữa.
Các yếu tố nguy cơ
Ở Mỹ, uống rượu quá nhiều là yếu tố nguy cơ lớn nhất dẫn đến xơ gan. Loại rượu ít quan trọng hơn lượng rượu uống trong nhiều năm. Hơn nữa, chỉ một lượng rượu nhỏ cũng có thể gây tổn thương gan nếu bạn bị nhiễm virus viêm gan B hoặc C.
Các yếu tố nguy cơ khác gồm:
+ Bị nhiễm viêm gan C hoặc B mạn tính: Hầu hết mọi người bị viêm gan C do truyền máu trước năm 1992, là năm có các xét nghiệm sàng lọc máu cải tiến. Bạn cũng có thể nhiễm virus do tiêm chích bằng kim tiêm bẩn hoặc, ít gặp hơn, từ kim được dùng để xăm hoặc xỏ lỗ. ở Mỹ, viêm gan B thường lây qua đường tình dục hoặc kim tiêm bẩn. Nhiễm viêm gan C lâu ngày gây tổn thương gan từ từ, và xơ gan xảy ra ở 20% số người trong hơn 20 năm sau khi nhiễm. Bị viêm gan C ở độ tuổi càng cao thì càng dễ bị xơ gan.
+ Giới tính: Nam giới bị xơ gan nhiều hơn phụ nữ, chủ yếu vì nam giới thường uống rượu nhiều hơn phụ nữ.
+ Một số bệnh di truyền: Bao gồm các bệnh gây thừa đồng hoặc sắt lắng đọng trong gan cũng như tăng galactose huyết - một rối loạn hiếm gặp ảnh hưởng đến cách co thể chuyển hóa đường sữa (lactose) - và các bệnh tích trữ glycogen, ngăn cản sự hình thành và giải phóng glycogen, một dạng glucose dự trữ , khi cơ thể cần.
+ Phản ứng thuốc và tiếp xúc với độc chất trong môi trường: Trong một số trường hợp, xơ gan có thể là hậu quả của phản ứng nặng với thuốc methotrexat (Rheumatrex, Folex), một thuốc ức chế miễn dịch, hoặc với amiodaron (Cordaron, Paceron), được dùng để điều trị loạn nhịp tim. Tiếp xúc lâu dài với các độc chất trong môi trường như arsen cũng có thể gây xơ gan.
Khi nào cần đi khám
Nếu bạn có các dấu hiệu và triệu chứng của xơ gan như sụt cân, mệt mỏi, vàng da và phù chân hoặc bụng, đặc biệt nếu bạn uống rượu hoặc đã bị viêm gan thì hãy đến bác sĩ khám. Khám thực thể và xét nghiệm có thể giúp chẩn đoán xơ gan và loại trừ các lý do khác gây ra các dấu hiệu và triệu chứng của bạn

XƠ GAN (Phần 2)

XƠ GAN (Phần 2)
Sàng lọc và chẩn đoán
Do xơ gan hiếm khi gây ra các dấu hiệu và triệu chứng trong giai đoạn sớm, bác sĩ có thể phát hiện ra bệnh trong khi khám thường qui. Bằng cách sờ nắn nhẹ vùng bụng, bác sĩ có thể thấy gan to và chắc, một dâu shiệu của bệnh gan. Tuy nhiên, khi xơ gan tiến triển, gan của bạn thường co nhỏ, cản trở dòng máu và làm cho lách to, được phát hiện khi khám thực thể.
Nếu bác sĩ nghi ngờ bạn bị xơ gan, bạn cần làm một số xét nghiệm, gồm:
· Xét nghiệm máu gan.
Tổn thương gan giải phóng ra một số enzym. Ðo những enzym này có thể giúp xác định liệu bạn có bị tổn thương gan hay không.
· Xét nghiệm bilirubin.
Bilirubin, một sắc tố màu vàng đỏ có nguồn gốc từ sự giáng hóa bình thường của hồng cầu, được chuyển hóa ở gan và bài tiết qua nước tiểu. Nhưng trong xơ gan giai đoạn muộn, gan không xử lý được bilirubin, dẫn đến làm tăng nồng độ chất này trong máu
· Siêu âm.
đây là xét nghiệm không xâm lấn dùng sóng âm để tạo ra hình ảnh của nhiều nội tạng gồm có gan. Siêu âm không gây đau và thường chỉ mất chưa đến 30 phút. Trong khi bạn nằm trên giường hoặc trên bàn khám, một đầu dò được đặt lên người bạn. Nó phát ra sóng âm được phản hồi từ gan của bạn và chuyển thành hình ảnh trên máy tính.
· Chụp cắt lớp vi tính (CT).
Xét nghiệm này dùng tia X để tạo ra các hình ảnh cắt ngang qua cơ thể.
· Chụp cộng hưởng từ (MRI).
Thay vì tia X, MRI tạo ra hình ảnh bằng sóng vô tuyến và từ trường. Ðôi khi, thuốc cản quang cũng được dùng. Xét nghiệm này có thể mất từ 15 phút tới 1 giờ. Bạn có thể thấy MRI bất tiện hơn CT. Ðó là vì bạn sẽ bị nhốt kín trong một ống hẹp và vì máy gây ra tiếng ồn lớn khiến một số người khó chụi.
Sinh thiết gan.
Mặc dù các xét nghiệm khác có thể cung cấp nhiều thông tin lớn về phạm vi và loại tổn thương gan, sinh thiết là cách duy nhất để chẩn đoán xác định xơ gan. Trong thủ thuật này, người ta lấy một mẫu mô gan nhỏ và kiểm tra dưới kính hiển vi. Bác sĩ thường dùng một kim nhỏ sắc để lấy mẫu. Sinh thiết bằng kim là một thủ thuật tương đối đơn giản và chỉ cần gây tê, nhưng bác sĩ của bạn có thể không chọn xét nghiệm này nếu bạn bị bệnh rối loạn chảy máu hoặc cổ chướng nặng. Nguy cơ lbao gồm bầm tím, chảy máu và nhiễm trùng.
Các biến chứng
Vì xơ gan phá vỡ các chức năng bình thường của gan, nó gây ra một số biến chứng nặng:
Tăng áp lực tĩnh mạch cửa. Vào bất kỳ thời điểm nào, gan cũng giữ khoảng13% tổng lượng máu của cơ thể, máu vào gan qua hai hệ thống mạch máu khác nhau. Máu từ ruột, lách, tuỵ vào gan qua một mạch máu lớn gọi là tĩnh mạch cửa. Xơ gan làm chậm và tắc dòng chảy bình thường của máu, làm tăng áp lực trong tĩnh mạch cửa và dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm khác như giãn tĩnh mạch và cổ trướng.
Giãn tĩnh mạch.
Tăng áp lực tĩnh mạch cửa thường gây hình thành các mạch máu phụ - chủ yếu ở dạ dày và thực quản. Ðôi khi hình thành các tĩnh mạch khác xung quanh rốn và đại tràng. Giống như các tĩnh mạch giãn, các mạch máu này có thành mỏng, xoắn và ứ máu. Ðiều này kiến chúng dễ chảy máu - một biến chứng xảy ra ở 30% số người bị xơ gan. Chảy máu ồ ạt ở dạ dày hoặc thực quản từ những mạch máu này là một cấp cứu cần xử trí ngay lập tức.
Ứ dịch.
Bệnh gan có thể gây tích tụ một lượng lớn dịch ở chân (phù) và ổ bụng (cổ chướng). Cổ trướng đặc biệt hay gặp trong xơ gan do rượu. Nhiều yếu tố có vai trò, bao gồm tăng áp lực tĩnh mạch cửa, giảm khả năng giữ dịch của mạch máu và các thay đổi về hormon và hóa chất điều hoà dịch trong cơ thể. Cổ chướng có thể rất khó chụi và gây khó thở. Ngoài ra, cổ chướng có thể bị nhiễm trùng (viêm phúc mạc tự phát) và cần điều trị bằng kháng sinh. Mặc dù không nguy hiểm, song cổ chướng thường là dấu hiệu của xơ gan giai đoạn muộn.
Bầm tím và chảy máu.
Xơ gan cản trở việc sản sinh các protein đông máu và hấp thu vitamin K, là vitamin đóng vai trò trong tổng hợp các protein này. Hởu quả là bạn dễ bị bầm tím và chảy máu hơn bình thường. Chảy máu trong đường tiêu hóa đặc biệt hay gặp.
Vàng da.
Xảy ra khi gan không thể thải loại bilirubin - chất cặn của tế bào hồng cầu già - ra khỏi máu. Bilirubin tích luỹ và lắng đọng ở da và củng mạc mắt, gây ra vàng da vàng mắt, làm cho nước tiểu xẫm màu và phân như đất sét trắng.
Ngứa.
Muối mật lắng đọng trên da gây ngứa dữ dội.
Bệnh não gan.
Gan bị tổn thương do xơ gan không loại bỏ được chất độc ra khỏi cơ thể - một trong những nhiệm vụ chính bình thường của gan. Sự tích luỹ các chất độc như amoniac - một phụ phẩm của quá trình tiêu hóa protein - có thể gây tổn thương não, dẫn đến các thay đổi trong tình trạng tinh thần, hành vi và nhân cách (bệnh não gan). Các triệu chứng của bệnh não gan gồm hay quên, lú lẫn và thay đổi tâm tính, và trong những trường hợp giai đoạn cuối, mê sảng và hôn mê.
Loãng xương.
Xơ gan cản trở khả năng gan xử lý vitamin D và calci, cả hai đều rất cần thiết cho sự phát triển và khỏe mạnh của xương. Hậu quả là, yếu, giòn và mất xương là biến chứng hay gặp của bệnh này. Calcitriol, một dạng vitamin D, có thể đặc biệt hữu ích trong điều trị vấn đề này.
Ung thư gan.
Xơ gan do bất cứ nguyên nhân nào đều làm tăng nguy cơ ung thư gan, xảy ra khi các tế bào ác tính bắt đầu phát triển trong mô gan. Không may, ung thư gan rất hiếm khi được phát hiện sớm, và tiên lượng thường là xấu. Tiên lượng đối với người bị ung thư gan lại càng phức tạp vì ghép gan hiếm khi được tiến hành. ở hầu hết các trường hợp, ung thư tái phát ngoài gan sau khi ghép gan.
Suy gan.
Xảy ra khi tổn thương tế bào gan trên diện rộng làm cho gan không thể thực hiện các chức năng.
Ðiều trị
Mặc dù tổn thương gan do xơ gan là không thể phục hồi, việc điều trị có thể giúp ngăn ngừa tổn thương thêm và làm giảm các biến chứng. Ðiều trị tốt nhất phụ thuộc vào nguyên nhân gây xơ gan.
Ðiều trị xơ gan do rượu
Cai rượu là cách điều trị chính cho xơ gan do rượu. May mắn là đã có nhiều cách điều trị để giúp những người có vấn đề về rượu. Ðiều trị được điều chỉnh phù hợp với từng người và có thể gồm đánh giá, can thiệp ngắn ngày, chương trình điều trị ngoại trú hoặc tư vấn, hoặc điều trị nội trú.
Ngoài ra, do người bị xơ gan và đặc biệt là xơ gan do rượu, thường bị suy dinh dưỡng, dinh dưỡng thường là phần chính của liệu pháp. Bác sĩ hoặc chuyên gia dinh dưỡng có thể đưa ra một kế hoạch ăn uống tốt, gồm 2000-3000 calo mỗi ngày để giúp các tế bào gan phục hồi.
Các nhà khoa học cũng đang nghiên cứu một số chất hữu ích trong điều trị xơ gan do rượu, bao gồm những thuốc mà ức chế các yếu tố góp phần gây viêm gan và chiết xuất từ đậu nành có thể làm ngừng tiến triển của sẹo gan.
Ngoài điều trị nguyên nhân xơ gan, bác sĩ sẽ chú trọng vào việc ngăn ngừa hoặc cải thiện biến chứng.
+ Tăng áp lực tĩnh mạch cửa. Bác sĩ có thể kê đơn các chất làm giảm huyết áp như các thuốc chẹn beta - thường là propronolol (Inderal) hoặc nadolol (Corgard) - để giúp làm giảm áp lực tĩnh mạch cửa và ngăn ngừa chảy máu do giãn tĩnh mạch.
+ Chảy máu. Ðể giúp cầm máu, bạn có thể dùng các thuốc như octreotid (Sandostatin) hoặc vapreotid (Octastatin) - là những chiết xuất của một hormon tự nhiên. Bạn có thể dùng thuốc đơn thuần hoặc phối hợp với một số thủ thuật ngoại khoa. Một trong những thủ thuật này là thắt búi tĩnh mạch nội soi, điều trị chảy máu thực quản. Trong thủ thuật này, vòng latex được dùng để cắt đứt việc cung cấp máu cho mạch máu bị vỡ. Nếu thủ thuật này không thành công, bác sĩ sẽ dùng một catheter có bóng ở đầu để chèn vào tĩnh mạch và cầm máu. Khi chảy máu nặng hoặc tái phát thường xuyên, bạn có thể cần phẫu thuật để tạo đường nối tắt giữa hệ tĩnh mạch gan và hệ tĩnh mạch chung.
Mặc dù thủ thuật này làm giảm áp lực tĩnh mạch cửa và ngừng chảy máu trong, phẫu thuật nối tắt có nhiều nguy cơ, bao gồm bệnh não.
+ Ứ dịch. Ðôi khi tránh rượu và muối là tất cả những gì bạn cần để làm giảm ứ dịch ở chân hoặc bụng. Nếu không, bác sĩ có thể kê đơn thuốc lợi tiểu như spironolacton (Aldacton) hoặc furosemid (Lasix). Những trường hợp nặng cần phải chọc hút dịch màng bụng, là thủ thuật rút ra một lượng dịch lớn thông qua một ống nhỏ được đưa vào ổ bụng.
+ Ngứa. Các bác sĩ thường kê đơn các thuốc kháng histamin như cholestyramin (Questran) và rifampin (Rifadin, Rimactan) để làm giảm ngứa do các chất chuyển hóa trong máu.
+ Ðiều trị bệnh não gan. Lactulose (Cholac, Duphalac), một loại đường tổng hợp, có thể giúp làm giảm amoniac máu do làm thay đổi typ vi khuẩn trong ruột và làm giảm hấp thu amoniac. Bác sĩ có thể cũng có thể cho dùng kháng sinh neomycin để làm giảm lượng vi khuẩn trong ruột sản sinh amoniac.
+ Suy gan. Khi không thể kiểm soát được các biến chứng hoặc chức năng gan suy nặng, ghép gan có thể là lựa chọn duy nhất đỗi với một số người. Một tin tức đáng phấn khởi là tỷ lệ thành công của ghép gan tiếp tục được cải thiện, và hơn 90% số người được ghép gan sống được hơn 1 năm. Thật không may, số người chờ đợi ghép gan lớn hơn rất nhiều số gan được hiến tặng. Nhưng những bước phát triển mới đây trong ghép gan có thể giúp cho nhiều người được ghép hơn. Những bước phát triển này gồm cho một phần gan từ người thân còn sống, chia một gan ghép cho hai người nhận, các chính sách phân phối tạng mới và đặc biệt các phương pháp mới để ghép gan cho người bị viêm gan C. Cho tới gần đây, gan nhiễm viêm gan C thường bị loại bỏ. Nhưng các nghiên cứu cho thấy người đã bị nhiễm viêm gan C nhận gan từ người cho có viêm gan C (+) cũng hồi phục tốt như nhận gan không bị nhiễm virus viêm gan C. Ðiều này có nghĩa là sẽ có thêm nhiều gan mới cho người bị viêm gan C. Mặc dù, viêm gan C có thể tái phát ở gan mới.
Phòng ngừa
Mặc dù không phải tất cả các trường hợp đều có thể phòng ngừa được, các biện pháp sau đây có thể làm giảm phần lớn nguy cơ
+ Tránh uống rượu hoặc uống rượu vừa phải. Rượu là một chất độc phải được lọc ở gan. Trong quá trình này, tế bào gan bị tổn thương. Thật không may là, bạn có thể không nhận ra là bạn có vấn đề với rượu trước khi tổn thương gan nặng xảy ra. Biết và nhận thức được tiền sử nghiện rượu của gia đình là bước quan trọng trong việc điều trị.
+ Bảo vệ chính mình trước viêm gan C. Vì chưa có vaccin để phòng ngừa viêm gan C, cách duy nhất để bạn tự bảo vệ là tránh tiếp xúc với virus. Nếu bạn không chắc chắn lắm về tình trạng sức khỏe của bạn tình, hãy dùng bao cao su mỗi lần khi có quan hệ tình dục. Không hít cocain và dùng chung bơm kim tiêm hoặc các dụng cụ dùng ma tuý khác. Dụng cụ dùng ma tuý nhiễm bẩn gây ra khoảng một nửa số các trường hợp viêm gan C mới. Ðến khám bác sĩ nếu bạn đang hoặc đã bị viêm gan C hoặc nghĩ là bạn đã tiếp xúc với virus.
+ Bảo vệ chính mình trước viêm gan B. Vaccin viêm gan B đã có từ năm 1981. Mặc dù tiêm vaccin là cách tốt nhất để bảo vệ bạn và những người khác, những biện pháp sau đây cũng có thể giữ cho bạn an toàn. Biết về tình trạng sức khỏe của mỗi bạn tình. Nếu bạn không biết, hãy dùng bao cao su mỗi lần quan hệ tình dục. Và nếu bạn dùng bơm kim tiêm để tiêm chích, hãy chắc chắn là bơm kim tiêm vô trùng và không dùng chung bơm kim tiêm.
Tự chăm sóc
Mặc dù tổn thương do xơ gan là không thể phục hồi, bệnh thường tiến triển chậm, và bạn có thể thực hiện một số bước để làm giảm tổn thương gan nặng thêm.
+ Tránh uống rượu. Ðây là biện pháp đơn giản quan trọng nhất mà bạn có thể làm để giúp bảo vệ gan và giảm nguy cơ hoặc các biến chứng nặng. Tránh uống rượu là điều rất quan trọng, cho dù bạn bị xơ gan loại gì.
+ Hạn chế dùng thuốc. Vì gan tổn thương không thể khử độc và thải trừ các thuốảia khỏi cơ thể, hãy hỏi bác sĩ về tất cả các thuốc, kể cả các thuốc không kê đơn. Ðặc biệt không nên phối hợp thuốc giảm đau acetaminophen (Tylenol, hoặc các thuốc khác) hoặc bất cứ thuốc giảm đau nào khác với rượu, cho dù bạn chỉ dùng lượng thuốc khuyến nghị hằng ngày.
+ Không nên tiếp xúc với người ốm. Khi gan của bạn đã bị tổn thương, bạn có thể không dễ dàng chống được nhiễm khuẩn như người khỏe mạnh. Hãy làm mọi việc để tránh bị ốm. Tiêm vaccin viêm gan A và B, cúm và viêm phổi do phế cầu.
+ Có chế độ ăn lành mạnh. Vì xơ gan có thể gây ra thiếu dinh dưỡng kèm theo sút cân, cần nhận được ít nhất 2000 tới 3000 calo từ rau quả tươi, ngũ cốc nguyên cám và những lượng nhỏ protein mỗi ngày. Những thực phẩm này giàu chất dinh dưỡng, gồm các vitamin A, C, E. Xơ gan có xu hướng mất các vitamin quan trọng này. Bác sĩ của bạn cũng có thể kê đơn bổ sung các vitamin K, A và D.
+ Ăn nhạt. Vì natri trong muối gây giữ nước, nó có thể góp phần hoặc làm tăng ứ dịch ở chân và bụng. Ngoài ra không cho thêm muối vào thức ăn, tốt nhất là tránh ăn các thức ăn chế biến sẵn nhiều muối, như súp đóng hộp và thịt nguội với phomát, và đồ gia vị như là nước sốt đậu nành, xốt cà chua nấm hoặc xốt mayonenaise. Nước chanh và thảo dược là những thứ thay thế tốt cho muối.
+ Tránh ăn sò sống. Sò, trai sống và các loại nhuyễn thể có vỏ khác có thể chứa vi khuẩn vibrio vulnificus, cực kỳ nguy hiểm cho người bị xơ gan. Cách tốt nhất là tránh tất cả các loài nhuyển thể, nhưng nếu ăn, bạn phải chắc chắn là đã nấu chín kỹ.
Các thuốc thay thế và bổ sung
Có nhiều liệu pháp thay thế và bổ sung - phần lớn là thảo dược và chất bổ sung dinh dưỡng - cho người bị bệnh gan. Một số trong những liệu pháp này, như là nhựa cây khế, đã được nghiên cứu sâu. Các chất khác, gồm chhát chống o xy hóa acid alpha lipoic (acid thiotic), vitamin E, và N-acetylcytein - một acid amin -hiện đang được nghiên cứu.
Một số liệu pháp thay thế đã được nghiên cứu và biết rõ gồm:
+ Nhựa cây kế (Silybum marianum): Ở châu Âu, nhựa cây kế (Silybum marianum) đã được dùng từ hàng trăm năm nay để điều trị vàng da và các rối loạn khác ở gan. Ngày nay, các nghiên cứu khoa học đã xác nhận rằng thành phần chính của nhựa cây kế là silymarin, có thể giúp làm lành và phục hồi gan. Sylimarin kích thích sản sinh các enzym chống oxy hóa giúp gan trung hoà độc tố. Nó cũng giúp tăng sinh tế bào gan mới và cải thiện sẹo xơ gan. Mặc dù nhựa cây kế lợi cho gan, nó không chữa khỏi viêm gan và không bảo vệ được bạn khỏi nhiễm virus.
Nhựa cây kế được bán ở dạng viên nang hoặc cao không có cồn. Nên đi khám bác sĩ trước khi thử dùng thảo dược này cũng như bất kỳ một thảo dược nào khác để đảm bảo chúng không tương tác với các thuốc khác mà bạn đang dùng.
+ Adenosylmethion (SAM-e). Có nhiều ở gan khỏe mạnh, hợp chất tự nhiên này đóng vai trò trong nhiều quá trình sinh hóa.
Nó đã được dùng ở châu Âu để điều trị trầm cảm và bệnh gan trong gần 30 năm. Một nghiên cứu cho thấy là liều lớn hằng ngày - 1200 miligam - làm giảm tỷ lệ tử vong ở người xơ gan do rượu. Lượng nhỏ hơn có thể cải thiện chức năng gan ở một số typ xơ gan. SAM-e tác dụng bằng cách ngăn ngừa mất glutathion, một chất chống ô xi hóa thiết yếu để khử độc các chất có hại trong gan. Tác dụng phụ của liệu pháp SAM-e gồm khô miệng - buồn nôn và bồn chồn. SAM-e cũng có thể tương tác với một số thuốc chống trầm cảm, dẫn đến đau đầu, nhịp tim không đều và lo âu. Chỉ được dùng SAM-e để điều trị các bệnh gan dưới sự giám sát của thầy thuốc.
+ Các chất chống ô xi hóa. Các phân tử trong cơ thể được tạo ra từ những nguyên tử gắn với nhau bằng sự liên kết hóa học. Mỗi liên kết gồm một cặp điện tử. Khi liên kết này bị phá huỷ - bởi stress, bệnh tật hoặc, thậm chí là quá trình chuyển hóa bình thường - các phân tử chỉ chứa một electron (gốc tự do) được tạo ra. Những mảnh không ổn định này cố kiếm một điện tử khác bằng cách phá huỷ các liên kết khác, gây tổn thương tế bào và thậm chí. Các gốc tự do gây ra nhiều tổn thương trong xơ gan. Nhưng có bằng chứng cho những các chất chống ô xi hóa như acid alpha-lipoic, N-acetylcytein và selen có thể giúp ngăn ngừa tổn thương do gốc tự do. Các nghiên cứu đang được tiến hành.
+ Acid béo omega-3. Chủ yếu có trong cá như cá hồi, dầu cá và dầu anh thảo, acid béo omega-3 có thể giúp bảo vệ gan. omega-3 có thể giúp bảo vệ gan.

Cách phục hồi tổn thương ở gan

Những nhà nghiên cứu ở Mỹ đã phát hiện ra rằng việc nạp rau xanh hàng ngày vào cơ thể sẽ phát huy được khả năng miễn nhiễm những bệnh của gan do rượu gây ra. Những loại rau xanh điển hình là: Rau chân vịt, quả kiwi, măng tây...
1. Rau xanh
Những nhà nghiên cứu ở Mỹ đã phát hiện ra rằng việc nạp rau xanh hàng ngày vào cơ thể sẽ phát huy được khả năng miễn nhiễm những bệnh của gan do rượu gây ra. Những loại rau xanh điển hình là: Rau chân vịt, quả kiwi, măng tây...
2. Protein bổ sung
Một vài thí nghiệm trên chuột đã chứng minh được khả năng phục hồi gan của bột protein bổ sung (protein supplements). Nếu như gan của bạn có vấn đề thì hãy đảm bảo lượng protein hàng ngày từ 40g đến 60g.
3. Tiêm phòng
Những tổn thương do virus viêm gan B gây ra chủ yếu là do phản ứng của cơ thể khi bị nhiễm trùng. Những tế bào gan bị hư hại sẽ làm suy yếu khả năng đào thải những chất cặn bã trong cơ thể, do vậy sẽ biểu hiện vàng da và nước tiểu sẫm màu. Vì vậy, bạn nên đi tiêm phòng càng sớm càng tốt.
4. Cà phê
Một nghiên cứu đã chứng minh rằng nếu bạn uống 1 đến 2 tách cà phê mỗi sáng thì sẽ giảm được một nửa nguy cơ mắc phải bệnh ung thư gan. Nghiên cứu khác tại Anh phát hiện ra rằng trong cà phê được rang ở mức vừa phải có nhiều chất chống oxy hóa hơn cà phê rang kỹ.
5. Milk Thistle
Đây là một loại thuốc mới được chiết xuất từ nhựa mủ cây kế. Milk Thistle có chứa rất nhiều silymarin có khả năng phục hồi những thương tổn của gan một cách triệt để. Thuốc có bán tại các hiệu thuốc trên toàn quốc.
6. Sữa chua
Bạn có thể giảm nguy cơ mắc các bệnh gan bằng việc ăn khoảng 200g sữa chua hằng ngày. Sữa chua có khả năng làm giảm nguy cơ gan nhiễm mỡ.

Thế Giới Yêu Xe

Lượt xem

hit counters hit counter supply chain management
Bí quyết sống khỏe. Powered by Blogger.
 
© Copyright 2013 Bí Quyết Sống Khỏe