XƠ GAN (Phần 2)

XƠ GAN (Phần 2)
Sàng lọc và chẩn đoán
Do xơ gan hiếm khi gây ra các dấu hiệu và triệu chứng trong giai đoạn sớm, bác sĩ có thể phát hiện ra bệnh trong khi khám thường qui. Bằng cách sờ nắn nhẹ vùng bụng, bác sĩ có thể thấy gan to và chắc, một dâu shiệu của bệnh gan. Tuy nhiên, khi xơ gan tiến triển, gan của bạn thường co nhỏ, cản trở dòng máu và làm cho lách to, được phát hiện khi khám thực thể.
Nếu bác sĩ nghi ngờ bạn bị xơ gan, bạn cần làm một số xét nghiệm, gồm:
· Xét nghiệm máu gan.
Tổn thương gan giải phóng ra một số enzym. Ðo những enzym này có thể giúp xác định liệu bạn có bị tổn thương gan hay không.
· Xét nghiệm bilirubin.
Bilirubin, một sắc tố màu vàng đỏ có nguồn gốc từ sự giáng hóa bình thường của hồng cầu, được chuyển hóa ở gan và bài tiết qua nước tiểu. Nhưng trong xơ gan giai đoạn muộn, gan không xử lý được bilirubin, dẫn đến làm tăng nồng độ chất này trong máu
· Siêu âm.
đây là xét nghiệm không xâm lấn dùng sóng âm để tạo ra hình ảnh của nhiều nội tạng gồm có gan. Siêu âm không gây đau và thường chỉ mất chưa đến 30 phút. Trong khi bạn nằm trên giường hoặc trên bàn khám, một đầu dò được đặt lên người bạn. Nó phát ra sóng âm được phản hồi từ gan của bạn và chuyển thành hình ảnh trên máy tính.
· Chụp cắt lớp vi tính (CT).
Xét nghiệm này dùng tia X để tạo ra các hình ảnh cắt ngang qua cơ thể.
· Chụp cộng hưởng từ (MRI).
Thay vì tia X, MRI tạo ra hình ảnh bằng sóng vô tuyến và từ trường. Ðôi khi, thuốc cản quang cũng được dùng. Xét nghiệm này có thể mất từ 15 phút tới 1 giờ. Bạn có thể thấy MRI bất tiện hơn CT. Ðó là vì bạn sẽ bị nhốt kín trong một ống hẹp và vì máy gây ra tiếng ồn lớn khiến một số người khó chụi.
Sinh thiết gan.
Mặc dù các xét nghiệm khác có thể cung cấp nhiều thông tin lớn về phạm vi và loại tổn thương gan, sinh thiết là cách duy nhất để chẩn đoán xác định xơ gan. Trong thủ thuật này, người ta lấy một mẫu mô gan nhỏ và kiểm tra dưới kính hiển vi. Bác sĩ thường dùng một kim nhỏ sắc để lấy mẫu. Sinh thiết bằng kim là một thủ thuật tương đối đơn giản và chỉ cần gây tê, nhưng bác sĩ của bạn có thể không chọn xét nghiệm này nếu bạn bị bệnh rối loạn chảy máu hoặc cổ chướng nặng. Nguy cơ lbao gồm bầm tím, chảy máu và nhiễm trùng.
Các biến chứng
Vì xơ gan phá vỡ các chức năng bình thường của gan, nó gây ra một số biến chứng nặng:
Tăng áp lực tĩnh mạch cửa. Vào bất kỳ thời điểm nào, gan cũng giữ khoảng13% tổng lượng máu của cơ thể, máu vào gan qua hai hệ thống mạch máu khác nhau. Máu từ ruột, lách, tuỵ vào gan qua một mạch máu lớn gọi là tĩnh mạch cửa. Xơ gan làm chậm và tắc dòng chảy bình thường của máu, làm tăng áp lực trong tĩnh mạch cửa và dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm khác như giãn tĩnh mạch và cổ trướng.
Giãn tĩnh mạch.
Tăng áp lực tĩnh mạch cửa thường gây hình thành các mạch máu phụ - chủ yếu ở dạ dày và thực quản. Ðôi khi hình thành các tĩnh mạch khác xung quanh rốn và đại tràng. Giống như các tĩnh mạch giãn, các mạch máu này có thành mỏng, xoắn và ứ máu. Ðiều này kiến chúng dễ chảy máu - một biến chứng xảy ra ở 30% số người bị xơ gan. Chảy máu ồ ạt ở dạ dày hoặc thực quản từ những mạch máu này là một cấp cứu cần xử trí ngay lập tức.
Ứ dịch.
Bệnh gan có thể gây tích tụ một lượng lớn dịch ở chân (phù) và ổ bụng (cổ chướng). Cổ trướng đặc biệt hay gặp trong xơ gan do rượu. Nhiều yếu tố có vai trò, bao gồm tăng áp lực tĩnh mạch cửa, giảm khả năng giữ dịch của mạch máu và các thay đổi về hormon và hóa chất điều hoà dịch trong cơ thể. Cổ chướng có thể rất khó chụi và gây khó thở. Ngoài ra, cổ chướng có thể bị nhiễm trùng (viêm phúc mạc tự phát) và cần điều trị bằng kháng sinh. Mặc dù không nguy hiểm, song cổ chướng thường là dấu hiệu của xơ gan giai đoạn muộn.
Bầm tím và chảy máu.
Xơ gan cản trở việc sản sinh các protein đông máu và hấp thu vitamin K, là vitamin đóng vai trò trong tổng hợp các protein này. Hởu quả là bạn dễ bị bầm tím và chảy máu hơn bình thường. Chảy máu trong đường tiêu hóa đặc biệt hay gặp.
Vàng da.
Xảy ra khi gan không thể thải loại bilirubin - chất cặn của tế bào hồng cầu già - ra khỏi máu. Bilirubin tích luỹ và lắng đọng ở da và củng mạc mắt, gây ra vàng da vàng mắt, làm cho nước tiểu xẫm màu và phân như đất sét trắng.
Ngứa.
Muối mật lắng đọng trên da gây ngứa dữ dội.
Bệnh não gan.
Gan bị tổn thương do xơ gan không loại bỏ được chất độc ra khỏi cơ thể - một trong những nhiệm vụ chính bình thường của gan. Sự tích luỹ các chất độc như amoniac - một phụ phẩm của quá trình tiêu hóa protein - có thể gây tổn thương não, dẫn đến các thay đổi trong tình trạng tinh thần, hành vi và nhân cách (bệnh não gan). Các triệu chứng của bệnh não gan gồm hay quên, lú lẫn và thay đổi tâm tính, và trong những trường hợp giai đoạn cuối, mê sảng và hôn mê.
Loãng xương.
Xơ gan cản trở khả năng gan xử lý vitamin D và calci, cả hai đều rất cần thiết cho sự phát triển và khỏe mạnh của xương. Hậu quả là, yếu, giòn và mất xương là biến chứng hay gặp của bệnh này. Calcitriol, một dạng vitamin D, có thể đặc biệt hữu ích trong điều trị vấn đề này.
Ung thư gan.
Xơ gan do bất cứ nguyên nhân nào đều làm tăng nguy cơ ung thư gan, xảy ra khi các tế bào ác tính bắt đầu phát triển trong mô gan. Không may, ung thư gan rất hiếm khi được phát hiện sớm, và tiên lượng thường là xấu. Tiên lượng đối với người bị ung thư gan lại càng phức tạp vì ghép gan hiếm khi được tiến hành. ở hầu hết các trường hợp, ung thư tái phát ngoài gan sau khi ghép gan.
Suy gan.
Xảy ra khi tổn thương tế bào gan trên diện rộng làm cho gan không thể thực hiện các chức năng.
Ðiều trị
Mặc dù tổn thương gan do xơ gan là không thể phục hồi, việc điều trị có thể giúp ngăn ngừa tổn thương thêm và làm giảm các biến chứng. Ðiều trị tốt nhất phụ thuộc vào nguyên nhân gây xơ gan.
Ðiều trị xơ gan do rượu
Cai rượu là cách điều trị chính cho xơ gan do rượu. May mắn là đã có nhiều cách điều trị để giúp những người có vấn đề về rượu. Ðiều trị được điều chỉnh phù hợp với từng người và có thể gồm đánh giá, can thiệp ngắn ngày, chương trình điều trị ngoại trú hoặc tư vấn, hoặc điều trị nội trú.
Ngoài ra, do người bị xơ gan và đặc biệt là xơ gan do rượu, thường bị suy dinh dưỡng, dinh dưỡng thường là phần chính của liệu pháp. Bác sĩ hoặc chuyên gia dinh dưỡng có thể đưa ra một kế hoạch ăn uống tốt, gồm 2000-3000 calo mỗi ngày để giúp các tế bào gan phục hồi.
Các nhà khoa học cũng đang nghiên cứu một số chất hữu ích trong điều trị xơ gan do rượu, bao gồm những thuốc mà ức chế các yếu tố góp phần gây viêm gan và chiết xuất từ đậu nành có thể làm ngừng tiến triển của sẹo gan.
Ngoài điều trị nguyên nhân xơ gan, bác sĩ sẽ chú trọng vào việc ngăn ngừa hoặc cải thiện biến chứng.
+ Tăng áp lực tĩnh mạch cửa. Bác sĩ có thể kê đơn các chất làm giảm huyết áp như các thuốc chẹn beta - thường là propronolol (Inderal) hoặc nadolol (Corgard) - để giúp làm giảm áp lực tĩnh mạch cửa và ngăn ngừa chảy máu do giãn tĩnh mạch.
+ Chảy máu. Ðể giúp cầm máu, bạn có thể dùng các thuốc như octreotid (Sandostatin) hoặc vapreotid (Octastatin) - là những chiết xuất của một hormon tự nhiên. Bạn có thể dùng thuốc đơn thuần hoặc phối hợp với một số thủ thuật ngoại khoa. Một trong những thủ thuật này là thắt búi tĩnh mạch nội soi, điều trị chảy máu thực quản. Trong thủ thuật này, vòng latex được dùng để cắt đứt việc cung cấp máu cho mạch máu bị vỡ. Nếu thủ thuật này không thành công, bác sĩ sẽ dùng một catheter có bóng ở đầu để chèn vào tĩnh mạch và cầm máu. Khi chảy máu nặng hoặc tái phát thường xuyên, bạn có thể cần phẫu thuật để tạo đường nối tắt giữa hệ tĩnh mạch gan và hệ tĩnh mạch chung.
Mặc dù thủ thuật này làm giảm áp lực tĩnh mạch cửa và ngừng chảy máu trong, phẫu thuật nối tắt có nhiều nguy cơ, bao gồm bệnh não.
+ Ứ dịch. Ðôi khi tránh rượu và muối là tất cả những gì bạn cần để làm giảm ứ dịch ở chân hoặc bụng. Nếu không, bác sĩ có thể kê đơn thuốc lợi tiểu như spironolacton (Aldacton) hoặc furosemid (Lasix). Những trường hợp nặng cần phải chọc hút dịch màng bụng, là thủ thuật rút ra một lượng dịch lớn thông qua một ống nhỏ được đưa vào ổ bụng.
+ Ngứa. Các bác sĩ thường kê đơn các thuốc kháng histamin như cholestyramin (Questran) và rifampin (Rifadin, Rimactan) để làm giảm ngứa do các chất chuyển hóa trong máu.
+ Ðiều trị bệnh não gan. Lactulose (Cholac, Duphalac), một loại đường tổng hợp, có thể giúp làm giảm amoniac máu do làm thay đổi typ vi khuẩn trong ruột và làm giảm hấp thu amoniac. Bác sĩ có thể cũng có thể cho dùng kháng sinh neomycin để làm giảm lượng vi khuẩn trong ruột sản sinh amoniac.
+ Suy gan. Khi không thể kiểm soát được các biến chứng hoặc chức năng gan suy nặng, ghép gan có thể là lựa chọn duy nhất đỗi với một số người. Một tin tức đáng phấn khởi là tỷ lệ thành công của ghép gan tiếp tục được cải thiện, và hơn 90% số người được ghép gan sống được hơn 1 năm. Thật không may, số người chờ đợi ghép gan lớn hơn rất nhiều số gan được hiến tặng. Nhưng những bước phát triển mới đây trong ghép gan có thể giúp cho nhiều người được ghép hơn. Những bước phát triển này gồm cho một phần gan từ người thân còn sống, chia một gan ghép cho hai người nhận, các chính sách phân phối tạng mới và đặc biệt các phương pháp mới để ghép gan cho người bị viêm gan C. Cho tới gần đây, gan nhiễm viêm gan C thường bị loại bỏ. Nhưng các nghiên cứu cho thấy người đã bị nhiễm viêm gan C nhận gan từ người cho có viêm gan C (+) cũng hồi phục tốt như nhận gan không bị nhiễm virus viêm gan C. Ðiều này có nghĩa là sẽ có thêm nhiều gan mới cho người bị viêm gan C. Mặc dù, viêm gan C có thể tái phát ở gan mới.
Phòng ngừa
Mặc dù không phải tất cả các trường hợp đều có thể phòng ngừa được, các biện pháp sau đây có thể làm giảm phần lớn nguy cơ
+ Tránh uống rượu hoặc uống rượu vừa phải. Rượu là một chất độc phải được lọc ở gan. Trong quá trình này, tế bào gan bị tổn thương. Thật không may là, bạn có thể không nhận ra là bạn có vấn đề với rượu trước khi tổn thương gan nặng xảy ra. Biết và nhận thức được tiền sử nghiện rượu của gia đình là bước quan trọng trong việc điều trị.
+ Bảo vệ chính mình trước viêm gan C. Vì chưa có vaccin để phòng ngừa viêm gan C, cách duy nhất để bạn tự bảo vệ là tránh tiếp xúc với virus. Nếu bạn không chắc chắn lắm về tình trạng sức khỏe của bạn tình, hãy dùng bao cao su mỗi lần khi có quan hệ tình dục. Không hít cocain và dùng chung bơm kim tiêm hoặc các dụng cụ dùng ma tuý khác. Dụng cụ dùng ma tuý nhiễm bẩn gây ra khoảng một nửa số các trường hợp viêm gan C mới. Ðến khám bác sĩ nếu bạn đang hoặc đã bị viêm gan C hoặc nghĩ là bạn đã tiếp xúc với virus.
+ Bảo vệ chính mình trước viêm gan B. Vaccin viêm gan B đã có từ năm 1981. Mặc dù tiêm vaccin là cách tốt nhất để bảo vệ bạn và những người khác, những biện pháp sau đây cũng có thể giữ cho bạn an toàn. Biết về tình trạng sức khỏe của mỗi bạn tình. Nếu bạn không biết, hãy dùng bao cao su mỗi lần quan hệ tình dục. Và nếu bạn dùng bơm kim tiêm để tiêm chích, hãy chắc chắn là bơm kim tiêm vô trùng và không dùng chung bơm kim tiêm.
Tự chăm sóc
Mặc dù tổn thương do xơ gan là không thể phục hồi, bệnh thường tiến triển chậm, và bạn có thể thực hiện một số bước để làm giảm tổn thương gan nặng thêm.
+ Tránh uống rượu. Ðây là biện pháp đơn giản quan trọng nhất mà bạn có thể làm để giúp bảo vệ gan và giảm nguy cơ hoặc các biến chứng nặng. Tránh uống rượu là điều rất quan trọng, cho dù bạn bị xơ gan loại gì.
+ Hạn chế dùng thuốc. Vì gan tổn thương không thể khử độc và thải trừ các thuốảia khỏi cơ thể, hãy hỏi bác sĩ về tất cả các thuốc, kể cả các thuốc không kê đơn. Ðặc biệt không nên phối hợp thuốc giảm đau acetaminophen (Tylenol, hoặc các thuốc khác) hoặc bất cứ thuốc giảm đau nào khác với rượu, cho dù bạn chỉ dùng lượng thuốc khuyến nghị hằng ngày.
+ Không nên tiếp xúc với người ốm. Khi gan của bạn đã bị tổn thương, bạn có thể không dễ dàng chống được nhiễm khuẩn như người khỏe mạnh. Hãy làm mọi việc để tránh bị ốm. Tiêm vaccin viêm gan A và B, cúm và viêm phổi do phế cầu.
+ Có chế độ ăn lành mạnh. Vì xơ gan có thể gây ra thiếu dinh dưỡng kèm theo sút cân, cần nhận được ít nhất 2000 tới 3000 calo từ rau quả tươi, ngũ cốc nguyên cám và những lượng nhỏ protein mỗi ngày. Những thực phẩm này giàu chất dinh dưỡng, gồm các vitamin A, C, E. Xơ gan có xu hướng mất các vitamin quan trọng này. Bác sĩ của bạn cũng có thể kê đơn bổ sung các vitamin K, A và D.
+ Ăn nhạt. Vì natri trong muối gây giữ nước, nó có thể góp phần hoặc làm tăng ứ dịch ở chân và bụng. Ngoài ra không cho thêm muối vào thức ăn, tốt nhất là tránh ăn các thức ăn chế biến sẵn nhiều muối, như súp đóng hộp và thịt nguội với phomát, và đồ gia vị như là nước sốt đậu nành, xốt cà chua nấm hoặc xốt mayonenaise. Nước chanh và thảo dược là những thứ thay thế tốt cho muối.
+ Tránh ăn sò sống. Sò, trai sống và các loại nhuyễn thể có vỏ khác có thể chứa vi khuẩn vibrio vulnificus, cực kỳ nguy hiểm cho người bị xơ gan. Cách tốt nhất là tránh tất cả các loài nhuyển thể, nhưng nếu ăn, bạn phải chắc chắn là đã nấu chín kỹ.
Các thuốc thay thế và bổ sung
Có nhiều liệu pháp thay thế và bổ sung - phần lớn là thảo dược và chất bổ sung dinh dưỡng - cho người bị bệnh gan. Một số trong những liệu pháp này, như là nhựa cây khế, đã được nghiên cứu sâu. Các chất khác, gồm chhát chống o xy hóa acid alpha lipoic (acid thiotic), vitamin E, và N-acetylcytein - một acid amin -hiện đang được nghiên cứu.
Một số liệu pháp thay thế đã được nghiên cứu và biết rõ gồm:
+ Nhựa cây kế (Silybum marianum): Ở châu Âu, nhựa cây kế (Silybum marianum) đã được dùng từ hàng trăm năm nay để điều trị vàng da và các rối loạn khác ở gan. Ngày nay, các nghiên cứu khoa học đã xác nhận rằng thành phần chính của nhựa cây kế là silymarin, có thể giúp làm lành và phục hồi gan. Sylimarin kích thích sản sinh các enzym chống oxy hóa giúp gan trung hoà độc tố. Nó cũng giúp tăng sinh tế bào gan mới và cải thiện sẹo xơ gan. Mặc dù nhựa cây kế lợi cho gan, nó không chữa khỏi viêm gan và không bảo vệ được bạn khỏi nhiễm virus.
Nhựa cây kế được bán ở dạng viên nang hoặc cao không có cồn. Nên đi khám bác sĩ trước khi thử dùng thảo dược này cũng như bất kỳ một thảo dược nào khác để đảm bảo chúng không tương tác với các thuốc khác mà bạn đang dùng.
+ Adenosylmethion (SAM-e). Có nhiều ở gan khỏe mạnh, hợp chất tự nhiên này đóng vai trò trong nhiều quá trình sinh hóa.
Nó đã được dùng ở châu Âu để điều trị trầm cảm và bệnh gan trong gần 30 năm. Một nghiên cứu cho thấy là liều lớn hằng ngày - 1200 miligam - làm giảm tỷ lệ tử vong ở người xơ gan do rượu. Lượng nhỏ hơn có thể cải thiện chức năng gan ở một số typ xơ gan. SAM-e tác dụng bằng cách ngăn ngừa mất glutathion, một chất chống ô xi hóa thiết yếu để khử độc các chất có hại trong gan. Tác dụng phụ của liệu pháp SAM-e gồm khô miệng - buồn nôn và bồn chồn. SAM-e cũng có thể tương tác với một số thuốc chống trầm cảm, dẫn đến đau đầu, nhịp tim không đều và lo âu. Chỉ được dùng SAM-e để điều trị các bệnh gan dưới sự giám sát của thầy thuốc.
+ Các chất chống ô xi hóa. Các phân tử trong cơ thể được tạo ra từ những nguyên tử gắn với nhau bằng sự liên kết hóa học. Mỗi liên kết gồm một cặp điện tử. Khi liên kết này bị phá huỷ - bởi stress, bệnh tật hoặc, thậm chí là quá trình chuyển hóa bình thường - các phân tử chỉ chứa một electron (gốc tự do) được tạo ra. Những mảnh không ổn định này cố kiếm một điện tử khác bằng cách phá huỷ các liên kết khác, gây tổn thương tế bào và thậm chí. Các gốc tự do gây ra nhiều tổn thương trong xơ gan. Nhưng có bằng chứng cho những các chất chống ô xi hóa như acid alpha-lipoic, N-acetylcytein và selen có thể giúp ngăn ngừa tổn thương do gốc tự do. Các nghiên cứu đang được tiến hành.
+ Acid béo omega-3. Chủ yếu có trong cá như cá hồi, dầu cá và dầu anh thảo, acid béo omega-3 có thể giúp bảo vệ gan. omega-3 có thể giúp bảo vệ gan.

Cách phục hồi tổn thương ở gan

Những nhà nghiên cứu ở Mỹ đã phát hiện ra rằng việc nạp rau xanh hàng ngày vào cơ thể sẽ phát huy được khả năng miễn nhiễm những bệnh của gan do rượu gây ra. Những loại rau xanh điển hình là: Rau chân vịt, quả kiwi, măng tây...
1. Rau xanh
Những nhà nghiên cứu ở Mỹ đã phát hiện ra rằng việc nạp rau xanh hàng ngày vào cơ thể sẽ phát huy được khả năng miễn nhiễm những bệnh của gan do rượu gây ra. Những loại rau xanh điển hình là: Rau chân vịt, quả kiwi, măng tây...
2. Protein bổ sung
Một vài thí nghiệm trên chuột đã chứng minh được khả năng phục hồi gan của bột protein bổ sung (protein supplements). Nếu như gan của bạn có vấn đề thì hãy đảm bảo lượng protein hàng ngày từ 40g đến 60g.
3. Tiêm phòng
Những tổn thương do virus viêm gan B gây ra chủ yếu là do phản ứng của cơ thể khi bị nhiễm trùng. Những tế bào gan bị hư hại sẽ làm suy yếu khả năng đào thải những chất cặn bã trong cơ thể, do vậy sẽ biểu hiện vàng da và nước tiểu sẫm màu. Vì vậy, bạn nên đi tiêm phòng càng sớm càng tốt.
4. Cà phê
Một nghiên cứu đã chứng minh rằng nếu bạn uống 1 đến 2 tách cà phê mỗi sáng thì sẽ giảm được một nửa nguy cơ mắc phải bệnh ung thư gan. Nghiên cứu khác tại Anh phát hiện ra rằng trong cà phê được rang ở mức vừa phải có nhiều chất chống oxy hóa hơn cà phê rang kỹ.
5. Milk Thistle
Đây là một loại thuốc mới được chiết xuất từ nhựa mủ cây kế. Milk Thistle có chứa rất nhiều silymarin có khả năng phục hồi những thương tổn của gan một cách triệt để. Thuốc có bán tại các hiệu thuốc trên toàn quốc.
6. Sữa chua
Bạn có thể giảm nguy cơ mắc các bệnh gan bằng việc ăn khoảng 200g sữa chua hằng ngày. Sữa chua có khả năng làm giảm nguy cơ gan nhiễm mỡ.

Giải thích các kết quả xét nghiệm máu và nước tiểu

Xem đầy đủ:  
Giải thích các kết quả xét nghiệm máu và nước tiểu (full)

1. GLUCOSE: Đường trong máu. Giới hạn bình thường từ 4,1-6,1 mnol/l. Nếu vượt quá giới hạn cho phép thì tăng hoặc giảm đường máu. Tăng trên giới hạn là người có nguy cơ cao về mắc bệnh tiểu đường.
2. SGOT & SGPT: Nhóm men gan. Giới hạn bình thường từ 9,0-48,0 với SGOT và 5,0-49,0 với SGPT. Nếu vượt quá giới hạn này chức năng thải độc của tế bào gan suy giảm. Nên hạn chế ăn các chất thức ăn, nước uống làm cho gan khó hấp thu và ảnh hưởng tới chức năng gan như: Các chất mỡ béo động vật và rượu bia và các nước uống có gas.
3. Nhóm MỠ MÁU: Bao gồm CHOLESTEROL, TRYGLYCERID, HDL-CHOLES, LDL-CHLES. Giới hạn bình thường của các yếu tố nhóm này như sau: Giới hạn bình thường từ 3,4-5,4 mmol/l với CHOLESTEROL, Giới hạn bình thường từ 0,4-2,3 mmol/l với TRYGLYCERID, Giới hạn bình thường từ 0,9-2,1 mmol/l với HDL-Choles, Giới hạn bình thường từ 0,0-2,9 mmol/l với LDL-Choles. Nếu 1 trong các yếu tố trên đây vượt giới hạn cho phép thì có nguy cơ cao trong các bệnh về tim mạch và huyết áp.Riêng chất HDL-Choles là mỡ tốt, nếu cao nó hạn chế gây xơ tắc mach máu. Nếu CHOLESTEROL quá cao kèm theo có cao huyết áp và LDL-Choles cao thì nguy cơ tai biến, đột quỵ do huyết áp rất cao. Nên hạn chế ăn các thực phẩm chứa nhiều chất mỡ béo và cholesterol như: phủ tạng động vật, trứng gia cầm, tôm, cua, thịt bò, da gà...Tăng cường vận động thể thao. Uống thêm rượu tỏi và theo dõi huyết áp thường xuyên.
4. GGT: Gama globutamin, là một yếu tố miễn dịch cho tế bào gan. Bình thường nếu chức năng gan tốt, GGT sẽ có rất thấp ở trong máu (Từ 0-53 U/L). Khi tế bào gan phải làm việc quá mức, khả năng thải độc của gan bị kém đi thì GGT sẽ tăng lên -> Giảm sức đề kháng, miễn dịch của tế bào gan kém đi. Dễ dẫn tới suy tế bào gan. Nếu với người có nhiễm SVB trong máu mà GGT, SGOT & SGPT cùng tăng thì cần thiết phải dùng thuốc bổ trợ tế bào gan và tuyệt đối không uống rượu bia nếu không thì nguy cơ dẫn đến VGSVB là rất lớn.
KẾT QUẢ MIỄN DỊCH
1. Anti-HBs: Kháng thể chống vi rút viêm gan siêu vi B trong máu (ÂM TÍNH < = 12 mUI/ml)
2. HbsAg: Vi rút viêm gan siêu vi B trong máu (ÂM TÍNH <>
KẾT QUẢ NƯỚC TIỂU
1. SG: Tỷ trọng của nước tiểu. Trung bình 1,005-1,020
2. PH: Độ PH trong nước tiểu. Bình thường từ 5-7.
3. Các yếu tố khác : B CẦU: tế bào bạch cầu. NIT: Nitrittes. PRO: Protein. GLU: Glucoe. KET: keton. UBG: Urobilinogen ( Muối mật). BILI: Bilinurin (Sắc tố mật). H CẦU: Hồng cầu.
4. Cặn lắng: Quay ly tâm nước tiểu lấy cặn lắng soi: Bạch cầu, Hồng cầu, Tinh thể.
Bình thường trong nước tiểu đều không có các yếu tố trên. Nhưng xuất hiện:
· PRO: Khi protein có trong nước tiểu và có thể có kèm theo Hồng cầu trong nước tiểu cần phải theo dõi chức năng thận do khả năng lọc của cầu thận không tốt. Nếu có điều kiện làm xét nghiệm nước tiểu 24h/ 03 tháng 01 lần tại các cơ sở xét nghiệm để phát hiện bệnh sớm.
· GLU: Khi có glucose trong nước tiểu -> Tiểu đường. Cần khám và điều trị sớm bệnh này theo tuyến y tế cơ sở.
· UBG và BILI: Là Urobilinogen ( Muối mật). BILI: Bilinurin (Sắc tố mật) có trong nước tiểu là do gan không lọc được hết các yếu tố này do vậy phải kết hợp so sánh với chức năng gan tại xét nghiệm máu nếu có tăng men gan -> theo dõi viêm gan hoặc tắc mật.
· Cặn lắng: Bình thường chỉ có một vài tế bào nhưng nếu có 10->20 tế bào bạch cầu hoặc hồng cầu cần phải kiểm tra lại chức năng lọc của thận tại y tế tuyến trên. Nếu có cặn lắng phốt phát hoặc cặn lắng can xi cần uống nhiều nước đề phòng cặn thận.
GIẢI THÍCH KẾT QUẢ XÉT NGHIỆM HUYẾT HỌC
TEST
RESULT
FLAG
LIMIT
REFERENCE RANGE (LIMIT 1)

KẾT QuẢ
BÁO HIỆU
GIỚI HẠN
GIỚI HẠN BÌNH THƯỜNG
WBC
2.7 K/uL
L - Low
*[ ]
4.1 - 10.9 K/uL
Số lượng bạch cầu
2.700/ul
Thấp
Thấp - Ngoài giới hạn
4.100 - 10.900/ul
LYM
0.7 25.6%L

[* ]
0.6 - 10.0 - 40.0%L
Số lượng Lympho (bạch cầu đơn nhân)
700 Tỷ lệ lympho 25.6%

Trong giới hạn
600 - Tỷ lệ 25 - 40.0%
*MID
0.3 10.4 %M

[* ]
0.1 - 0.1 - 12.0 %M
Số lượng các bạch cầu mono, eosinophils…
300 Tỷ lệ mid 10.4%

Trong giới hạn
100 - Tỷ lệ 0.1 - 12.0%
GRAN
1.7 64.0 %G
L - Low
*[ ]
2.0 - 40.0 - 75.0%G
Số lượng bạch cầu hạt (bạch cầu đa nhân)
1700 Tỷ lệ 64.0%
Thấp
Thấp - Ngoài giới hạn
2000 - Tỷ lệ 40.0 - 75.0%
RBC
4.80 M/uL

[* ]
4.20 - 6.00 M/uL
Số lượng hồng cầu
4.800.000/ul

Trong giới hạn
4.200.000 - 6.000.000/ul
HGB
14.3 g/dL

[* ]
13.0 - 17.0 g/dL
Huyết sắc tố
14.3 g/dL

Trong giới hạn
13.0 - 17.0 g/dL
HCT
43.9 %

[ * ]
39.0 - 50.0 %
Thể tích khối hồng cầu
43.9 %

Trong giới hạn
39.0 - 50.0 %
MCV
91.5 fL

[ *]
80.0 - 97.0 fL
Thể tích trung bình hồng cầu
91.5 fL

Trong giới hạn
80.0 - 97.0 fL
MCH
29.8 pg

[ * ]
26.0 - 32.0 pg
Huyết sắc tố trung bình hồng cầu
29.8 pg

Trong giới hạn
26.0 - 32.0 pg
MCHC
32.6 g/dL

[* ]
31.0 - 36.0 g/dL
Nồng độ huyết sắc tố trung bình hồng cầu
32.6 g/dL

Trong giới hạn
31.0 - 36.0 g/dL
RDW
13.7 %

[ *]
11.5 - 14.5 %
Tỷ lệ phân bố hồng cầu
13.7 %

Trong giới hạn
11.5 - 14.5 %
PLT
151. K/uL

[* ]
140. - 400. K/uL
Tiểu cầu
151.000/ul

Trong giới hạn
140.000 - 400.000/ul
*MID bao gồm các tế bào hiếm, ít xuất hiện như bạch cầu monocytes, eosinophils, basophils, bạch cầu non và các bạch cầu chưa trưởng thành khác.
Nhận định kết quả, chú ý:
- HGB (huyết sắc tố) thấp dưới 13 với nam và dưới 12 với nữ là thiếu máu.
- MCV (thể tích trung bình hồng cầu) dưới 80 là hồng cầu nhỏ.
- MCH (huyết sắc tố trung bình hồng cầu) dưới 26 là nhược sắc.
Nếu có báo hiệu:
- Lympho RM là có thay đổi nhẹ về số lượng và kích thước của bạch cầu lympho.
- Lympho R1 là thay đổi về số lượng.
- Lympho R2 là thay đổi về số lượng kèm theo thay đổi về kích thước của bạch cầu lympho.
- MID RM là có thay đổi nhẹ về số lượng và kích thước của bạch cầu monocytes, eosinophils…
- MID R2 là thay đổi về số lượng và kích thước, kèm theo tăng monocytes.
- MID R3 là thay đổi về số lượng và kích thước, kèm theo tăng eosinophils.
- Nếu số lượng bạch cầu và tế bào MID tăng cao kèm theo các dấu hiệu R2 R3, có thể có sự hiện diện của các bạch cầu non, chưa trưởng thành.
- GRAN RM là có sự thay đổi nhẹ về số lượng và kích thước bạch cầu hạt trung tính.
- GRAN R3 là có sự thay đổi về số lượng.
- GRAN R4 là có sự tăng giảm kèm theo số lượng phân chia nhân của tế bào hạt trung tính có thay đổi.

9 bí quyết giúp gan khỏe mạnh

Thông thường khi gan mắc bệnh, nó không có những triệu chứng gì rõ ràng. Như vậy có nghĩa là, các bệnh về gan nếu không quá nghiêm trọng thì thường không có dấu hiệu gì đặc biệt.

Chúng ta cần biết rằng, bản thân gan không có thần kinh gây đau đớn, mà chỉ có ở lớp biểu bì. Khi bên trong gan mắc bệnh, nếu không tiếp xúc với lớp biểu bì thì chúng ta sẽ không cảm thấy đau đớn.

Hơn nữa, gan là cơ quan có tính chịu đựng, chỉ cần còn 30% khả năng làm việc thì cơ thể của chúng ta khó cảm nhận được sự đau đớn, chỉ khi gan bị mắc bệnh, cơ năng của nó có biểu hiện bị suy thoái thì chúng ta mới nhận thấy được triệu chứng đó.

Gan còn là một cơ quan nội tạng cứng và giữa gan với các cơ quan khác trong cơ thể có một mối quan hệ chặt chẽ, cho nên gan thường phải chịu những ảnh hưởng liên đới của các bộ phận khác, ví dụ cơ thể bị bệnh truyền nhiễm, bệnh đái tháo đường hoặc khi mang thai thì đều có thể ảnh hưởng gián tiếp đến cơ năng của gan. Hiểu được tầm quan trọng của gan, bạn phải đặc biệt chú ý chăm sóc và bảo vệ gan thật tốt.

Dưới đây là 9 bí quyết giúp bạn giữ gan được khỏe mạnh:

1/Hãy để cơ thể bạn có thời gian nghỉ ngơi

Ăn cơm xong có thời gian nghỉ ngơi là cách tốt nhất giúp gan khỏe mạnh, sau khi ăn nếu nghỉ ngơi yên tĩnh 30 phút sẽ giúp cơ thể hấp thụ được phần lớn các chất dinh dưỡng. Những người có chức năng gan không tốt nên đi ngủ trước 23 giờ và không nên thức quá 1 giờ đêm. Một số người vì công việc mà luôn phải làm việc vào ban đêm, những người này có khả năng mắc bệnh gan khá cao, ngoài ra hệ thống miễn dịch cũng sẽ bị giảm sút.

2/Bạn cần chú ý giữ cân bằng dinh dưỡng

Bạn hãy rèn luyện cho mình một thói quen ăn uống đúng giờ giấc và định lượng. Nên ăn nhiều rau xanh và các loại hoa quả để đại tiện được dễ dàng, giúp cho gan giảm bớt gánh nặng. Nếu bị bệnh gan bạn cần ăn uống nhiều chất bổ dưỡng cho gan đó là lượng protein cao, lượng mỡ thấp, lượng đường đầy đủ, vitamin phong phú để cung cấp thêm protein và vitamin cho cơ thể.

3/Hãy bỏ thuốc lá

Hút thuốc lá rất có hại cho cơ thể, đặc biệt là có hại cho gan. Sau khi hút thuốc, nồng độ nicotin trong máu sẽ tăng cao, do đó gan sẽ phải làm việc nhiều hơn để giải độc cho các chất nicotin này.

4/Cần phải cai rượu

Đối với các lá gan bình thường, thì uống một chút rượu không những không có hại mà còn có lợi, nhưng nếu uống quá nhiều rượu thì sẽ rất có hại. Còn những người đã bị bệnh gan thì uống rượu không khác gì hành động tự sát, một khi gan đã có bệnh thì không nên uống một chút rượu nào cả.

5/Không nên uống thuốc bừa bãi

Đối với một số thuốc mà tác dụng phụ của nó ảnh hưởng đến gan, nếu mắc bệnh gan thì cơ thể bị sốt, ngoài ra toàn thân bị phát ban, người bị phù, ngứa ngáy, bên cạnh đó người bệnh sẽ có cảm giác chán ăn, khó chịu buồn nôn, trướng bụng. Người bị bệnh gan cần đặc biệt chú ý khi uống các loại thuốc tránh thai và thuốc cảm cúm.

6/Không nên tức giận

“Nộ tắc thương can”, câu đó có nghĩa là khi tức giận sẽ rất có hại cho gan. Theo các nhà miễn dịch học, thì khi tức giận hệ miễn dịch của cơ thể sẽ hoạt động kém đi và làm tổn thương đến gan. Do vậy những người bị mắc bệnh gan nhất thiết không nên nóng giận nhiều.

7/Cần kiêng khem trong ăn uống

Khi lá gan của bạn đã có bệnh, nên tránh ăn những thực phẩm không còn tươi, bao gồm các loại thực phẩm lên men, các loại thực phẩm có chất bảo quản, phẩm màu và các phụ gia, các loại thức ăn hun khói... các gia vị có chất kích thích, một số loại hoa quả như mãng cầu, vải, long nhãn... cũng không nên ăn nhiều.

8/Cần chủ động phòng chống viêm gan

Tiêm vaccin phòng bệnh viêm gan là một trong những cách tích cực nhất để phòng bệnh gan. Hiện nay tại các cơ sở y tế phòng dịch của huyện, thị xã, thành phố đều được cung cấp đầy đủ các vaccin phòng bệnh viêm gan, chúng ta nên chủ động đến để được tiêm phòng đầy đủ. Một điều quan trọng khác là cần chú ý tránh các nguồn lây nhiễm ví dụ như cần tránh hoặc hết sức cẩn thận khi truyền máu, tiêm, châm cứu, xăm, dùng chung bàn chải, dùng chung dao cạo râu... cần sử dụng bơm tiêm một lần, dùng kim châm cứu riêng...

9/Cần duy trì đều đặn kiểm tra gan định kỳ

Nếu bình thường thì 6 tháng - 1 năm bạn nên đi làm các xét nghiệm máu để kiểm tra các chỉ số gan. Còn nếu bạn không may mắc bệnh gan thì cần phải tuyệt đối tuân thủ lời dặn của bác sĩ, kiên trì uống thuốc, không nên vì bệnh tình tiến triển chậm mà sốt ruột đổi bác sĩ, đổi thầy thuốc điều trị, điều đó chỉ càng khiến việc điều trị bệnh gan của bạn khó khăn, gian nan hơn.

Theo Sức khỏe & Đời sống

Ăn vỏ lụa đậu phộng giúp tăng tiểu cầu 2

Thế Giới Yêu Xe

Lượt xem

hit counters hit counter supply chain management
Bí quyết sống khỏe. Powered by Blogger.
 
© Copyright 2013 Bí Quyết Sống Khỏe